Ở các video trước, mình có hỏi chuyện các cô, chú cao tuổi về giáo dục VNCH, nên mọi người cũng đã hiểu cơ bản. Lần này, gặp cô Phượng, 1 nhà giáo dục có tiếng, mình muốn hỏi cô thêm về đề tài này và để mọi người có thêm góc nhìn về cách giáo dục kiểu Pháp lai với VNCH ở trường Tây. Cuộc trò chuyện gồm 2 video.
Thời đó tồn tại song song hệ thống trường công lập dạy chương trình Việt và hệ thống trường Pháp (như Marie Curie) dạy chương trình Pháp. Tuy nhiên, trường Pháp vẫn bắt buộc dạy các môn Sử, Địa, Văn, Công dân giáo dục bằng tiếng Việt theo chương trình của VNCH. Đây là cái khác biệt với giáo dục cũ thời Pháp thuộc.
Môi trường giáo dục đề cao sự tôn trọng nhưng không khúm núm. Trong tranh luận công khai hay học thuật, người học được khuyến khích xưng “tôi” để thể hiện sự bình đẳng về quan điểm, thay vì xưng “con” hay “em” quá quỵ lụy.
Triết lý giáo dục: Tự do và Khai phóng
Quyền tự chủ của giáo viên: Bộ Giáo dục chỉ đưa ra khung chương trình (ví dụ: lớp 6 học văn học dân gian), còn việc dạy như thế nào, dùng sách gì là toàn quyền của giáo viên. Hiệu trưởng hay chính quyền không can thiệp vào chuyên môn hay áp đặt nội dung giảng dạy.
Không có sách giáo khoa độc tôn: Học sinh không bị bắt buộc mua một bộ sách giáo khoa cố định. Thay vào đó, học sinh mượn sách từ thư viện nhà trường hoặc tự tìm mua các sách tham khảo khác nhau do các giáo viên giỏi biên soạn.
Khuyến khích tự học và nghiên cứu: Ngay từ cấp 2, học sinh đã được giao bài tập sưu tầm tư liệu (như ca dao, tục ngữ) thay vì học thuộc lòng. Điều này rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và tự học
Kiểm tra đánh giá và Tư duy phản biện
Không có “văn mẫu”: Các bài thi, đặc biệt là môn Văn và Triết, là các bài luận (essay) nơi học sinh phải trình bày quan điểm cá nhân và lập luận logic. Không có đáp án mẫu, và học sinh không bị trừ điểm nếu có quan điểm trái ngược với thầy cô, miễn là lập luận chặt chẽ.
Sự trung thực học thuật: Cô Phượng nhấn mạnh sự khác biệt lớn so với hiện nay là vấn đề đạo văn. Thời trước, việc trích dẫn ý tưởng của người khác mà không dẫn nguồn bị coi là điều cấm kỵ và bị xử lý nghiêm, trong khi hiện nay khái niệm này đôi khi bị xem nhẹ hoặc hiểu sai do thói quen học theo văn mẫu.
Trọng thực học hơn bằng cấp
Xã hội và nhà trường trọng thực tài. Có những nhà nghiên cứu, giáo viên (như cha của cô Phượng) không có bằng tốt nghiệp phổ thông chính quy nhưng nhờ tự học và có công trình nghiên cứu giá trị nên vẫn được công nhận là học giả và được mời giảng dạy đại học.
Nền giáo dục thời đó hướng tới việc trang bị cho người học năng lực tư duy và phương pháp tự học. Nhà trường tin tưởng vào khả năng gạn lọc và tư duy độc lập của học sinh, giúp họ có sức đề kháng trước các luồng thông tin khác nhau thay vì đào tạo ra những con người rập khuôn.
Dương Quốc Chính, Facebook, cập nhật 22.1.2026
