Lưng Trời Cánh Hạc Đi Về Hoàng Hôn: Từ Tư Tưởng, Trí Tuệ đến Hành Trình Giáo Dục của Ôn Tuệ Sỹ

Lưng Trời Cánh Hạc Đi Về Hoàng Hôn

Từ Tư Tưởng, Trí Tuệ đến Hành Trình Giáo Dục của Ôn Tuệ Sỹ

Lưng trời cánh hạc

Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn. Người là minh chứng của tinh thần vô uý, vô cầu của các bậc Thánh đệ tử Phật. Người là biểu tượng của hàng xuất gia, những người biết định hướng đời sống mình trong chuỗi đời vô tận, biết gánh vác trách nhiệm kế thừa sự nghiệp của Thầy Tổ, để giữ gìn ngôi nhà Chánh Pháp. 

Trong buổi chiều thơ nhạc thiền và tọa đàm hôm nay, con biết trong đây có Hòa Thượng Nguyên Siêu và nhiều vị là học trò thân cận lâu năm của Ôn, rất nhiều chư vị thức giả hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã được học với Ôn và có kiến tri sâu sắc về Ôn. Do vậy, những lời phát biểu của con chỉ là những lời bộc bạch của một người đệ tử nhỏ nói về Thầy mình—người Thầy có ơn giáo dưỡng và truyền cảm hứng bất tận cho con trên lộ trình tu tập Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành.

Nói về Ôn, con không dám nghĩ rằng con cảm nhận được sự uyên bác của Ôn qua từng câu chữ; con không dám nghĩ mình có thể hiểu được hết những hành trạng của Ôn. Hai mươi năm được Ôn dạy dỗ, hai mươi năm ấy từng việc Ôn làm, từng lời Ôn nói, đối với con đều là công án. Đọc sách của Ôn, con đọc với lòng thành kính như khi con lễ Phật. Dịch sách của Ôn, con thận trọng từng câu chữ. Vì con biết rõ chỉ bằng sự nghiêm cẩn, tĩnh tâm và thận trọng ấy, thì con mới hiểu được Ôn muốn nói gì, qua câu chữ và đằng sau câu chữ. 

Dấu ấn của người Thầy

Hai năm qua, nhiều lần nhắm mắt lại, con lắng nghe những xúc cảm tưởng đã ngủ yên trong tâm, bỗng cựa mình thức giấc. Con không ngăn dòng nước mắt tự động chảy mỗi khi nhớ Ôn. Trong tâm con lúc ấy là bầu trời trong xanh trải dài vô tận, và Ôn như cánh hạc vút tầng không, bỗng cánh hạc lẫn khuất đâu đó, con không tài nào nhìn ra được nữa. Cố dõi mắt tìm dấu vết giữa hư không, rồi trước mắt con hiện ra những bóng nắng chập chờn trên đại dương. Con thấy mình là một giọt nước lấp lánh đầu non. Giọt nước lần theo dấu vết của cánh hạc mà chảy trôi về biển. Giọt nước cứ thế trôi lăn. Mở mắt ra, nhìn lên di ảnh Ôn trong phòng, nơi con vẫn cúng trà lên Giác linh Ôn mỗi ngày, Ôn nhìn con, ánh mắt từ bi sâu thẳm.

Nhớ lại năm 2004, lần đầu tiên con được Ôn cho phép vô Thị Ngạn Am ở Quảng Hương Già Lam, sự tò mò của một cô ni nhỏ lúc ấy chỉ xoay quanh vấn đề ngủ nghỉ. Con nhìn khắp phòng, chỉ có bàn Phật và bàn Ôn ngồi làm việc, xung quanh là những kệ sách chất đầy với nhiều ngôn ngữ mà con chưa hề được tiếp cận. Không giấu được sự tò mò, con hỏi Ôn: “Bạch Ôn, vậy Ôn ngủ ở đâu?” Ôn cười, chỉ vào chiếc ghế đang ngồi: “Ở đây”. Cô ni ấy lại hỏi tiếp: “Một ngày Ôn ngủ khoảng bao nhiêu tiếng?” Ôn trả lời: “Khoảng hai, ba tiếng.” Cô ni ấy ra về cùng với thắc mắc khác. Và những thắc mắc nối tiếp xung quanh đời sống của Ôn chưa hề mất đi sau hai mươi năm. 

Những năm ngoài hai mươi tuổi, con làm thơ viết văn, Ôn không nói gì, chỉ nhắc nhẹ trong một lần con pha trà cho Người: “Làm thơ thì làm thơ nhưng đừng có bi luỵ. Mà người làm thơ thì bi rồi. Bi thì bi nhưng đừng có lụy, người ta có quỳ trước mặt mình thì cũng phải bước qua mà đi.” Cô ni nhỏ vì kính Ôn mà giữ từng lời trong tâm, nhưng lúc ấy vẫn thấy mâu thuẫn, vẫn không tài nào hiểu được. Mãi đến nhiều năm sau, khi gặp việc, thì chính câu nói của Ôn năm nào đã nâng cô ni đứng dậy. Lúc ấy cô ni mới hiểu, thì ra sự “bước qua mà đi” này đâu phải bước qua một đối tượng nào đó trước mặt, mà từ chính những hệ luỵ của tâm mình.

Cuối năm 2017 sau khi con hoàn tất chương trình nghiên cứu ở Tích Lan trở về, Ôn dạy cần đi Mỹ học thêm về Tây Tạng và Khoa học Não. Để giới thiệu về Khoa học Não, thay vì ngồi giảng giải, Ôn đưa con cuốn Khoa Học của Thiền[i] kèm câu nói: “Đọc đi, có nhiều cái hay nơi.” Đọc xong cuốn sách, niềm yêu thích khoa học trong con cũng chớm nở từ đó. Song, người học trò vì muốn được ở gần Thầy nên không chịu đi học tiếp. Bằng sự thiện xảo của một bậc đại trí, Ôn chỉ ngồi tâm sự, nói ra những điều chưa ai làm được để cho học trò suy nghĩ và tự quyết định, rồi hỏi: “Nói Thầy nghe, giờ ở nhà làm gì?” Con không biết trả lời sao. Suy nghĩ mấy hôm rồi con thưa Ôn: “Dạ, bạch Ôn, vậy con đi Mỹ học thêm vài năm nữa.” Ôn cười vui: “Đi học xong rồi về Thầy dạy cho.” Sau đó Ôn bàn với Thầy Lê Mạnh Thát đưa con qua Mỹ học tiếp. Và người học trò lại một lần nữa lên đường du học. 

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử do được thôi thúc bởi lý tưởng Phật thừa và chí hướng Bồ-tát đạo vừa khơi mở, nên bày tỏ với Bồ-tát Văn Thù khát vọng được chỉ dẫn con đường tu học và thực hành Bồ-tát hạnh. Thấu hiểu tâm nguyện ấy, Bồ-tát Văn Thù chỉ dạy Thiện Tài cầu chân thiện tri thức, và đã giới thiệu Thiện Tài đến gặp Tỳ-kheo Đức Vân, mở ra hành trình tầm cầu thiện tri thức kéo dài qua 51 nơi để học hỏi và thực chứng đạo lý. Con nay học theo hạnh Thiện Tài nên nghêu ngao khúc độc hành ca: “Chân đồi xanh luống cải/ đời ta xanh viễn phương”.[ii]

Rời xa Ôn, con biết con đang bỏ biển để đi tìm những dòng sông. Song, con vẫn vui vẻ chấp nhận ra đi, vì con hiểu rõ, rồi đến một ngày những dòng sông sẽ đưa con trở về với biển. 

Con qua Mỹ chưa được một năm thì Ôn qua Nhật chữa bệnh. Giai đoạn ấy căn bệnh ung thư khiến xương của Ôn yếu đi, các ngón tay cũng bị cứng đi. Chị Sớm Mai, con gái của bác Nguyên Hạnh – Nhã Ca, mua cây đàn piano gởi qua Nhật để Ôn luyện ngón. Chị sợ Ôn la nên nói, “Mẹ con mua cho Thầy.” Ôn im lặng một lúc rồi nói: “Thầy đánh đàn có ích lợi chi, để tiền cho Khánh Năng học.” Rồi Ôn nói thêm: “Nhờ Thầy bệnh mà có tiền cho Khánh Năng đi học.” Sau khi nói chuyện với Ôn, chị gọi sang kể và nhắc con: “Cô phải cố gắng đó, chứ Ôn nói với em nhờ Thầy bệnh mà có tiền cho Khánh Năng đi học.” 

Sau khi nói chuyện với chị Sớm Mai, con ngồi lặng một lúc rồi viết email gởi Ôn. Hình ảnh Ôn xúc động kể về quý Ôn ngày xưa lại hiện về trong tâm. Con vẫn nhớ từng lời Ôn nói: “Ôn Trí Thủ một đời chỉ lo đào tạo Tăng tài. Thời đó khó khăn, mỗi người mỗi nơi, không ai học được. Ôn Trí Thủ nói: ‘Tui chịu nhục cho các thầy làm việc.’ Ôn Trí Thủ nói thêm: ‘Một ngày có thể không có mặt trời, một ngày Tăng không thể không tu và không học.’ Ôn Trí Quang thì nhịn ăn để viện trợ, để lo cho đàn em là Ôn Minh Châu đi du học.” Giọt nước chảy ra từ khoé mắt, tim con như bị bóp nghẹt, và ở đó có một ngọn lửa đã được khơi sáng, ấm nóng. Con hiểu hơn nguyện và hành của Ôn trong mạch nguồn Chánh Pháp không đứt đoạn ấy. Những gì quý Ôn ngày xưa làm cũng là những gì ngày nay Ôn đã và đang làm cho thế hệ của con. Ôn không cần gì cho mình, chỉ một lòng vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ kế thừa. Rồi từ sự hiểu đó mà con đã ý thức được trách nhiệm và bổn phận của mình, và giờ đây giáo dục đã trở thành một phần máu thịt trong con, là lẽ sống của con.

Con ngồi lặng, xâu chuỗi lại từng ký ức rời trong hai mươi năm qua. Nhớ lại năm 2008 vì vừa đang theo học ở Ôn, vừa biên tập cho Tập san Pháp Luân do Ôn chủ trương, và lại đang học chương trình Anh văn của Hội Việt Mỹ, nên không chùa Ni nào ở Sài Gòn chịu nhận con cả. Ôn phải đích thân qua chùa Phước Hoà ở quận Gò Vấp để gởi. Hai Sư bà Phước Hoà đã từng làm cho Đại học Vạn Hạnh ngày xưa nên rất mừng vui khi được gặp lại Ôn sau mấy mươi năm. Vừa gặp hai Sư bà, Ôn đã nói ngay: “Để mấy cô có thời gian học, đừng có bận bịu đám xá cúng kiếng, có gì tui chịu.” Ôn về rồi, Sư bà gọi con lên phòng dạy: “Con phải cố gắng học đừng để Ôn buồn, từ xưa đến giờ Ôn chưa bao giờ làm vậy. Ôn nhỏ tuổi thua Sư, nhưng Ôn như là thầy của Sư.

Phép lạ của giáo dục

Đối với Ôn, giáo dục vẫn là sự ưu tiên hàng đầu. Trong Huyền Thoại Duy-Ma-Cật, Ôn đã nêu câu chuyện về thanh niên cư sỹ Kevaṭṭa để nói về phép lạ của giáo dục: “Có lần, thanh niên cư sỹ Kevaṭṭa đề nghị Phật dạy cho các tỳ-kheo thần thông biến hóa, như vậy có thể thu phục đức tin của nhiều người hơn bằng phép lạ siêu nhiên. Đức Phật từ chối. Ngài chỉ xác nhận một phép lạ thôi. Đó là giáo giới thị đạo, tức là phép lạ của sự giáo dục. Không ích gì khi có khả năng biến hóa một người tí hon thành khổng lồ, làm thân hình bốc lửa các thứ. Chỉ đáng tán thưởng, khi phép lạ là khả năng biến một con người hung ác thành một bậc Thánh từ tâm quảng đại.”[iii]

Cô ni nhỏ ngày nào đã dần lớn lên trong tâm yêu thương và sự thiện xảo dạy dỗ của Ôn. Rồi con cũng hiểu được phép lạ của giáo dục, rồi con cũng hiểu được vì sao Ôn nói “có thiên tài âm nhạc, thiên tài toán học, thiên tài này thiên tài kia, nhưng không bao giờ có thiên tài giáo dục.”

Ngày nay khi con biết nghĩ đến trách nhiệm của mình thì Ôn đã ra đi. Không còn Ôn hướng dẫn, muốn làm gì con đều phải tự mình. Tự mình học kham nhẫn. Tự tu luyện chính mình. Sau khi Ôn tịch, chỗ nương tựa duy nhất của con là những trước tác và dịch phẩm mà Ôn để lại. 

Di sản trí tuệ và tư tưởng 

Mỗi khi nhớ Ôn, con lần giở các bài kinh trong A-hàm ra đọc. Mỗi khi cần trưởng dưỡng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, con đọc Thắng Man Giảng LuậnDu-Già Bồ-Tát Giới. Mỗi khi cần nhắc nhở về lý tưởng sống đạo, con đọc Duy-Ma-Cật Sở Thuyết và Huyền Thoại Duy-Ma-Cật. Mỗi khi cần thưởng thức một tuyệt tác khảo luận văn học—mà ở đó thi ca, văn học, triết học và thiền học như hoà lẫn vào nhau—con đọc Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng. Mỗi khi cần tìm về những ‘phương trời viễn mộng’, cần lần theo dấu vết “lưng trời cánh hạc đi về hoàng hôn”, con đọc Giấc Mơ Trường SơnThiên Lý Độc HànhNgục Trung Mị Ngữ.

Nếu Huyền Thoại Duy-Ma-Cật và Thắng Man Giảng Luận là những bản nguyện ca của tâm chứng ngộ, thì Tổng Quan Về Nghiệp và Thiền Định Phật Giáo lại là những tác phẩm nghiên cứu Phật học hàn lâm, mà ở đó người nghiên cứu Phật học nghiêm túc nhìn thấy Ôn trên cả ba lĩnh vực: nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu và nhà giáo dục.

*Tổng Quan về Nghiệp

Tác phẩm Tổng Quan Về Nghiệp là một tổng hợp khoa học, tôn giáo và triết học. Với kiến thức Phật học uyên thâm cộng với sự thành thạo nhiều cổ ngữ và sinh ngữ, cũng như sự thông thạo cả hai luồng tư tưởng Đông Tây, Ôn đã tổng hợp, đã dựng lại toàn bộ văn minh tư tưởng của nhân loại qua khảo luận dày công này. Chủ đề về nghiệp được bàn từ nhận thức phổ thông quần chúng, đến tư duy triết học và tôn giáo; từ sự tương đồng giữa nghiệp với Vật lý cổ điển, Cơ học lượng tử, Tâm phân học và Khoa học não, đến nghiệp trong giáo nghĩa A-hàm cho đến các bộ phái luận thuyết. Đặc biệt phần ba của sách: “Nghiệp luận A-tì-đạt-ma”, nghiệp được bàn một cách chi li, từ ‘Thể tính của nghiệp’ đến ‘Luật nghi và nghiệp đạo’ cho đến ‘Nghiệp và nghiệp quả’, qua đó người học Phật sẽ hiểu nghiệp trong mối tương quan: nghiệp-ký ức-tự ngã—chủ thể luân hồi; hay nói cách khác, sau khi tạo tác, nghiệp được tích lũy và tồn tại như thế nào để cho quả trong nhiều đời sau. 

Câu Phật ngôn khó hiểu, khó chấp nhận, cũng như khiến các luận sư hàng đầu của các học phái Phật giáo nỗ lực không ít để lý giải: “Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ” đã trở nên dễ hiểu qua vấn đề đồng bộ não mà Ôn đã bàn luận ở phần “Tâm phân học và Khoa học Não”. Ngoài ra, Ôn cũng đề cập đến các thí nghiệm đo đạc của các nhà khoa học não trên các hành giả thiền để lấy đó “làm cơ sở khoa học cho lý giải quá trình chuyển đổi nghiệp: thay đổi tâm để thay đổi não, thay đổi não để thay đổi hành vi ứng xử, như trong các trường hợp thọ giới, trì giới và phá giới.”[iv]

Ôn là một bậc thầy cấp tiến, đã tiên phong trong việc đưa những tiến bộ của khoa học phương Tây đến gần với nền minh triết phương Đông. Ôn gợi mở một hướng nghiên cứu mới khi liên hệ nghiệp với ký ức: “Toàn bộ quá trình ký ức này, từ nhập liệu cho đến truy xuất, hoàn toàn tương ứng với quá trình tạo tác, tích lũy và cho quả của nghiệp.”[v] Ôn tiếp thu những lợi ích của khoa học hiện đại, nhưng cũng không quên nhắc nhở về những giới hạn khó vượt qua của nó trong vấn đề lý giải nghiệp: “Trong thế kỷ hiện tại, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học não, cơ chế vật lý của ký ức được lý giải một cách thuyết phục, tuy vẫn còn nhiều mong đợi, nhưng cơ chế đó tự động hoàn toàn như một bộ máy, hay có sự chi phối của những yếu tố phi vật chất, như ý thức chẳng hạn, vẫn chưa có lý giải nhất trí. Cơ chế vật lý được lý giải bởi khoa học não cũng chỉ là những kết quả quan sát, thí nghiệm, đo đạc trên thân thể vật lý này và chỉ trong đời này. Khi thân này rã, ký ức được tàng trữ trong thân vật lý này cũng biến mất theo. Nếu giả thiết, ngoài cơ chế vật lý của ký ức, còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất, không nhất thiết là ý thức, để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý để cho quả dị thục của nó. Phương pháp tiếp cận này không phải là bất khả, nhưng khả tín đến mức nào, còn tùy thuộc nhiều yêu tố.”[vi]

Dường như vẫn lo ngại người đọc còn lúng túng trong nhận thức, Ôn thêm vào phần phụ luận: “Ký ức và Nghiệp” với những ví dụ thiết thực trong đời sống để lý giải cho câu “có tác nghiệp nhưng không có tác giả”: “Ngày nay, một người đi đến một máy ATM, ra lệnh xuất tiền, máy làm theo lệnh đúng với số lượng yêu cầu, và mọi người biết rõ, trong đó không có một con người thường trực ngồi đó để xuất tiền theo lệnh, cũng không có một cái gì gọi là ý thức được cài trong đó. Vậy thì, có hành vi làm mà không có con người làm, cũng như có tác nghiệp nhưng không có tác giả. Tuy nói vậy, lý giải này còn xa vời mới được chấp nhận. Vì sao? Cũng còn xa mới có câu trả lời. Bởi vì, kinh nghiệm không thể phủ nhận, rằng tôi nhớ hôm qua, ngày trước, những năm tháng trước, tôi làm gì. Cái tôi trước đó và cái tôi này là một, dù thân thể của tôi có thể đổi khác.”[vii]

Ngoài ra, Ôn còn nêu ví dụ về quá trình xông hương để giải thích về quá trình huân tập tự ngã để chúng ta dễ liên tưởng và tư duy: “Như vách tường, hay những vật có khả năng hấp thụ hương và khói, được xông thơm hay xông thối; thường xuyên được xông hương hay xông thối, càng lúc nồng độ của mùi ngửi càng tăng, cho đến khi không còn vật xông, mà vật hấp thụ mùi xông vẫn phát sinh khả năng yêu hay ghét nơi người đến tiếp xúc. Khi hội đủ điều kiện, danh ngôn ấy hiện hành cùng với tâm thức yêu ghét.”[viii]

Như vậy, quá trình xông hương cũng đồng với quá trình tích lũy kinh nghiệm từ những gì đã từng thấy, từng nghe, thành ký ức để về sau hoài niệm, nhớ tưởng, hoặc buồn hoặc vui. Trong quá trình tích luỹ này, cái xuất hiện trước diệt, biến chuyển để thành cái sau, cái xuất hiện sau khác biệt với cái trước, tạo thành chuỗi tương tục. Chuỗi tương tục này là một quá trình huỷ thể liên tục, như khi hạt giống được gieo xuống đất, nó tự hủy và biến chuyển để thành cái khác, do đó xuất hiện mầm, chồi, cành lá, cho đến hoa trái, v.v…

Ngoài hư không có dấu chim bay

Đến đây thì chúng ta đã rõ, nghiệp hay ký ức nói chung, và ký ức về Ôn nói riêng, mà con cũng như mọi người trong đây hoài niệm, nhớ tiếc là gì, nó có ảnh hưởng gì đến tư duy, nhận thức và quá trình hình thành tự ngã—chủ thể của luân hồi sinh tử hay Niết-bàn tịch tịnh hay không. Rõ ràng, chúng ta không nắm giữ được thời gian, nhưng có thể kéo dài khoảnh khắc đến vô tận trong ký ức của chính mình. Ký ức, như vậy, có thể nhận chìm ta xuống biển sâu của nước mắt, và cũng chính ký ức ấy nâng tâm hồn ta lên. Và điều này tuỳ thuộc vào sự nhìn ngắm và quán chiếu của mỗi người.

Ôn đã ra đi nhưng di sản trí tuệ mà Ôn để lại lợi lạc đến ngàn sau. 

Năm chầy đá ngủ lòng khe
Lưng trời cánh hạc đi về hoàng hôn.”[ix]

80 năm qua, Ôn như cánh hạc cô độc đi về trong chiều tà rồi nắng quái, nắng quái rồi chiều tà. Rồi một ngày nọ, cánh hạc đã vút tầng không; chúng ta không còn nhìn thấy cánh hạc trong buổi hoàng hôn bay về núi nữa. Song, với những gì Ôn để lại—những trước tác dịch phẩm, phục hưng lại Công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam mang tính hàn lâm quốc tế—cũng như ân đức giáo dưỡng của Ôn đối với bao thế hệ học trò, ký ức về Ôn trong tâm thức chúng ta, chúng ta có thể nói rằng, “ngoài hư không có dấu chim bay[x]là điều khả dĩ. 

Để kết thúc, con xin đọc bài thơ mà Ôn đã viết khi Ni sư Trí Hải viên tịch vào năm 2003. Bài thơ là tiếng vọng vô ngôn của Ôn—một bậc Đại sĩ tự tại đến đi. Bài thơ cũng nói thay chúng ta, nỗi niềm của những người ở lại:

Cánh chim đã vượt qua vũng lầy sinh tử
Bóng nắng rọi lên dòng huyễn hóa
Thân theo tro tàn bay
Hoa trắng vỡ trên đại dương sóng cả
Sao trời chợt tắt giữa lòng tay
Sương còn đọng trên đầu cây lá
Đến rồi đi nước lững vơi đầy
Heo hút bờ hoang ảnh giả
Người sống mỏi mòn trong nhớ tiếc không khuây.” 

Chúng Hương Am, Quý Thu 2025
Thích Nữ Khánh Năng – Hạnh Thân


[i] The Science of Meditation – How to Change Your Brain, Mind and Body by Daniel Goleman & Richard Davidson.
[ii] Thơ Ôn Tuệ Sỹ
[iii] Tuệ Sỹ, Huyền Thoại Duy-Ma-Cật (TP HCM: Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2007), 88.
[iv] Tuệ Sỹ, Tổng Quan Về Nghiệp (Đà Nẵng: Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 2021), 62.
[v] Tuệ Sỹ, Tổng Quan Về Nghiệp, 307-308.
[vi] Tuệ Sỹ, Tổng Quan Về Nghiệp, 309.
[vii] Tuệ Sỹ, Tổng Quan Về Nghiệp, 310.
[viii] Tuệ Sỹ, Tổng Quan Về Nghiệp, 342.
[ix] Thơ Ôn Tuệ Sỹ
[x] Thơ Ôn Tuệ Sỹ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận