Nối gót – Thiên lý độc hành

Một buổi sáng cuối thu năm 2011, đang ngồi trong quán cà-phê sách ở Đà lạt tôi nhận được mẫu tin của thầy gởi qua email, chỉ ngắn gọn mấy dòng:


Tôi đi lang thang theo đám mây trôi, phương trời vô định. Bờ sông, hốc núi, đâu cũng là chỗ vùi thây. Một chút duyên còn ràng buộc thì còn có cơ hội ngộ, đời này hoặc đời sau.
Thị ngạn am vô trụ xứ.

Thư được gởi đi từ chiều hôm trước, nghĩa là tối đó ông đã lang thang đâu đó ngoài bến xe, tìm một chuyến xe nào bất cứ, đi đến một nơi nào khả dĩ, không hẹn trước. Chuyến đi của ông thầy tu không chùa, không đệ tử, không cần nơi đến. Ra đi như vậy, ngoài những ẩn tình riêng chung, nhưng kỳ cùng nó là một thôi thúc, một bó buộc đã sẵn có tự bao giờ. Và trở về, cũng là một thôi thúc, bó buộc khác.

Gởi lại tình yêu ngọn cỏ rừng
Ta về phố thị bởi tình chung
Trao đời hương nhụy phơi hồn đá
Thăm thẳm mù khơi sương mấy từng

Thiên lý độc hành, chuỗi thơ 13 bài, hình thành sau chuyến đi ấy. Nó mở đầu bằng sự trở về, và kết thúc bằng lời gởi gắm một bước chân khác lên đường. Đi cho hết con đường thăm thẳm nhân sinh trường mộng. Hai câu kết để ta đóng lại tập thơ mà không đóng lại được những tâm tình khắc khoải, tương điệu trước một vệt nắng chiều, hay một ánh sao xa lay lắt cuối trời. Lời nhắn nhủ cuối thơ không phải là sự êm đềm khép lại cánh cổng vườn nhà sau khi người con đã trở về, nó mở ra lối sau chỉ về một phương trời khác tịch liêu…

Mưa lạnh
 đèo cao
 không cõi người.

Phương trời mờ ảo với ánh sao đêm làm đèn soi lối, lấy ánh trăng trên cỏ làm chiếu mà nằm, để sáng ra tiếp tục cuộc đi mà không biết đêm nay sẽ ở đâu, có ‘may mắn’ tìm được một chỗ ngủ kín gió không. Có khi chỗ đó là cái miếu cô hồn bên đèo vắng, có khi là phía sau cái bệ con sư tử đá khổng lồ trước cổng tam quan một ngôi chùa, nơi có một hốc nhỏ đủ cho một người nằm khuất tầm nhìn khách qua đường. Nghỉ chân và chợp mắt, để ba giờ khuya thức dậy thu vén đi tiếp trước khi nhịp sống đô thị trở lại nơi này cho một ngày mới. Thân tiếp theo thân ngày tiếp ngày. Mù trong dư ảnh lá rừng bay

Cái mùi hoang liêu dặm trường sao mà huyễn hoặc. Nó hấp dẫn như mùi trái cây chín dại ven đường, như mấy gói lạc rang của một thanh niên tốt bụng đưa cho, để chiều lên đèo, “vì ở đó trong tầm bán kính mười cây số không có nhà ai”, anh ta nói. Mấy gói lạc rang, đủ cho một ngày đi qua cái đèo hoang vu này.

Sau này họa hoằng được nghe kể về chuyến đi, tôi thấy thật khó viết được gì chân xác về những bài thơ này. Đó là những con đường nắng chát bụi bặm, những bầu trời tối sầm trĩu nặng mây đen, những chiều bụng đói, những đêm hun hút ngó về một quê hương nào đã mất. Đó không phải là trang giấy trắng để ta cặm cụi ghi chú vài ý tưởng mộng mơ. Tập thơ này với tôi không phải để đọc, để hiểu hay để viết về; chỉ cần nhìn, cảm, và tưởng tượng. Tôi không lo khi đọc đôi chỗ không hiểu thơ nói gì, nhưng sẽ buồn nếu không tưởng tượng được khung trời nào trong những câu

Từ ta trải áo đường mưa bụi
Tưởng thấy tiền thân trên bến không

Mưa, nắng, gió, bụi; những bước chân miệt mài đi qua rừng, qua phố, để làm gì, để tìm gì? Tìm gì trong màu hoàng hôn phơi trên hồn đá, cái bóng người xiêu đổ bên bờ lau sậy phất phơ nỗi buồn viễn xứ. Xứ sở nào của người, của đá, của những bông lau bay trắng bốn phương ngàn?

Nắng, bụi, gió, mưa. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo(*). Cuối trời vạn nẻo nơi nào không có cỏ xanh. Một đứa bé chạy theo dúi vào tay ông ổ bánh ngọt, chỉ tay về ngôi nhà lụp xụp bên vệ đường: Má con biểu đưa cho ông. Cái tình người nó tự nhiên như cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ xanh và hoa lau trắng, màu trắng hoang mang cả trời cô lữ. Giữa dòng ngựa xe phố thị hay trước thảo nguyên xanh ngút ngàn, ở đâu cũng có lúc bất chợt cảm thấy lạc loài, thấy tháng ngày hư ảo, ta muốn đi tìm một cái gì đó khác, đo đếm xem khoảng cách bao xa giữa hai bờ mộng thực. Đi trong chiều nắng quái, hay trong những giấc mộng khẽ khàng. Nhìn đám bụi mờ dưới bước chân đi, ta tự hỏi, không biết đó là tha hương hay là cố quận?

Rồi ngã xuống nghe suối tràn ngập máu
Thân là thân cỏ lá gập ghềnh xuôi
Chờ mưa tạnh ta trải trăng làm chiếu
Nghìn năm sau hoa trắng trổ trên đồi.

Ánh trăng sau cơn mưa hiện ra lấp lánh trên cỏ, như trải ra tấm chiếu hoa gấm ngọc ngà.

Nghìn năm sau… kể chuyện Thiên lý độc hành, có người ngay thẳng và thực tế sẽ hỏi: Đi như vậy, tự đọa đày như vậy để làm gì? Những bước chân vô định kia có để lại chút dấu vết nào nơi đá cuội ven đường? Có lẽ không; hoặc có để lại một giấc mơ bên hiên nhà tạm trú đêm qua. Không biết mưa lũ cao nguyên rồi sẽ cuốn phăng nó về đâu? Mà Thiên lý độc hành là gì? Đâu phải chỉ là một chuyến đi. Cuộc đi không có khởi hành, không nơi đến, thì làm sao có sự kết thúc trở về.

Khi về anh nhớ cài quai nón
Mưa lạnh đèo cao không cõi người…

Hạnh Viên
Mùa hạ Canh tý, PL. 2564.


(*) 天涯何處無芳草, thơ Tô Đông Pha.

THIÊN LÝ ĐỘC HÀNH, thơ Tuệ Sỹ
Dịch giả:
Nguyễn Phước Nguyên (Anh ngữ)
Dominique de Miscault (Pháp ngữ)
Bùi Chí Trung (Nhật ngữ)
Hình ảnh: Hạnh Viên
Biên tập, thiết kế sách & bìa: Đào Nguyên Dạ Thảo
Sách in màu
Culture Art Education Exchange Resource xuất bản tháng 12 năm 2020
Hương Tích xuất bản tháng 10/2021

Phát hành tại Việt Nam:
https://sachhuongtich.com/thien-ly-doc-hanh-tho-tue-sy

Phát hành trên BARNS & NOBLE

0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments