CÂY KHẾ ĐỒI CAO
(Tưởng niệm Hoà Thượng Thích Phước An)
Một trong những câu thơ của Phạm Công Thiện ám ảnh tôi từ nhỏ:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trỗ hết bông”
Có một câu thơ của Hoàng Trúc Ly, người bạn thân của Phạm Công Thiện, câu đầu giống hệt, chẳng biết ai làm trước ai làm sau:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Em ngủ một mình trong gió mưa”
Câu thơ của Hoàng Trúc Ly ít người nhớ tới, nhưng câu của Phạm Công Thiện thì được nhắc đến rất nhiều trong các diễn đàn văn học. Ở đây tôi không nói đến câu thơ, tôi chỉ nói đến hình ảnh “cây khế đồi cao”. “Trỗ hết bông” nghĩa là gì? Vì mưa-chiều-thứ-bảy, không gian thì ướt át, thời gian thì muộn màng. Trỗ-hết-bông là bông đã trỗ hết, trỗ bừng hết, trắng muốt trên cành, hay trỗ hết rồi lụi tàn, chẳng còn bông nào hết? Tôi chẳng biết. Mà cũng chẳng cần biết. Cái nghi ngờ lẩm cẩm ấy lại là cái thú vị của thi ca, khiến câu thơ cứ lảng vảng mãi trong đầu.
Cây khế nào? Đồi cao nào? Ai là người ở lại với cây khế đồi cao đó? Đây chính là điều tôi muốn nói tới trong bài viết này: Thích Phước An. Trên ngọn đồi Trại Thuỷ, dãy phòng học đơn sơ, biết bao tài danh đã đến và đi, từ các bậc cao tăng lừng danh như Minh Châu, Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Thiện Siêu, Đổng Minh đến các học giả như Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, những giáo sư như Nguyễn Đăng Thục, Cao Hữu Đính, những nhà thơ văn như Quách Tấn, Võ Hồng. Chỉ có một mình Thầy Phước An là ở lại đó cho đến hơi thở cuối cùng.
Phạm Công Thiện viết câu thơ trên khoảng sau năm 1964, sau khi ông được xuất gia với Hoà Thượng Giám viện Thích Trí Thủ với pháp danh Nguyên Tánh và nổi tiếng với tác phẩm “Tiểu Luận Về Bồ Đề Đạt Ma”. Trong khảo luận “Phạm Công Thiện Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng”, Thích Phước An đã từng viết: “Ở đây, trên đồi cao vắng vẻ, vào mỗi chiều tôi vẫn thường ra đứng nhìn mặt trời khuất dần nơi các rặng núi phía xa, rồi chạnh lòng nhớ đến những người thân đã đến rồi ra đi không bao giờ về thăm lại ngọn đồi cao này. Tất nhiên, trong đó hình bóng của anh Phạm Công Thiện, một thanh niên tài hoa vừa mới từ giã Sài Gòn về đây suốt ngày tự nhốt mình trong một căn phòng đầy sách cùng những câu thơ mà anh đã từng sáng tác ở đây, vào những đêm dài heo hút hay những chiều buồn lê thê, lúc nào cũng sống lại đậm đà trong kí ức xa xôi của tôi”. Quách Tấn, một nhà thơ chất ngất hồn Đường đã từng viết: “Nếu ở thời hiện tại có cái gọi là thơ Thiền thì chắc chắn đó phải là hai câu thơ Thiền hay nhất ở thời hiện đại”.
Rõ ràng tư tưởng của Phạm Công Thiện đã in dấu sâu đậm trong tâm khảm của vị học tăng tại Hải Đức. Chả vì thế mà Thầy Phước An đã chọn câu thơ trong bài Bất Nhị của chàng trai họ Phạm ấy làm tiêu đề sách của mình: “Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng”.
Thầy Phước An từ Bình Định vào Phật học viện Hải Đức vào khoảng những năm 1957, 1958, 1959, sau khi Hải Đức sáp nhập cả Phật học đường Báo Quốc từ Huế vào. Đến năm 1974, khi Hải Đức là Cao đẳng Phật học viện với Viện trưởng Thích Thiện Siêu, Phó Viện trưởng Thích Đỗng Minh, Học vụ kiêm Thư ký Thích Tuệ Sỹ thì Thầy Phước An làm Thủ thư kiêm phụ tá học vụ. Sau 1975, Phật học viện Hải Đức tan rã. Mỗi người theo duyên phận của mình tứ tán khắp các tỉnh thành và hải ngoại. Chỉ một mình Thầy Phước An ở lại dãy phòng học của Hải Đức, lặng lẽ, hắt hiu suốt hơn 50 năm cho đến hơi thở cuối cùng. Không chùa chiền, không đệ tử, không danh phận, không làm việc giáo hội, đúng chất một thủ thư: không phải là người giữ sách, mà là giữ cái hồn, cái cốt của văn chương, của những trang kinh, điển tịch, và làm chứng cho mọi đổi thay, phát triển hay lụi tàn của thành phố Nha Trang với gió biển ngàn đời, với đồi Trại Thuỷ cô liêu, với dòng sông Cái hiền hoà và đỉnh tháp Chàm Ponagar trầm mặc.
Nói đến Thích Phước An mà không nói đến những trang viết của Thầy trong đặc san đây đó là một thiếu sót lớn. Thầy viết gì? Thầy viết về Trần Nhân Tông, viết về Nguyễn Du, viết về Quách Tấn, viết về Tuệ Sỹ… Người ta không thấy nhiều những quê hương lửa đạn, những đấu đá thời cuộc, những đảo điên chính trị hay đời sống thăng trầm. Người ta chỉ thấy một dòng chảy xuyên suốt của hồn Việt, của Phật giáo thăng trầm và tình tự quê hương thắm đẫm qua những con chữ đầy chất xúc tác. Có thể nói, sau Tuệ Sỹ với những trang thơ chất ngất Trường Sơn huyết lệ thì những bài viết của Thích Phước An là những trang sách đáng đọc nhất khi muốn tìm về quê hương sơ thuỷ.
Phạm Công Thiện thì “long đong theo bóng chim gầy” và “đau trong tiếng gà xơ xác” để gặp lại quê hương:
“Gió thổi đồi tây hay đồi đông?
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông”.
Với Tuệ Sỹ thì khác:
“Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Đông Phương”.
Phạm Công Thiện thì đi tìm quê hương ở biền biệt trời Tây. Tuệ Sỹ Phạm Văn Thương thì cúi xuống lắng nghe núi rừng hợp tấu, còn Thích Phước An Trần Hữu Cư, người ngưỡng mộ hai bậc tài danh thế kỷ ấy, như cây khế đồi cao, đứng lặng suốt hơn nửa thế kỷ thăng trầm để gìn giữ quê hương trầm mặc.
Có lẽ bức ảnh của Thầy Phước An nổi tiếng trên mạng là bức ảnh trong chiếc xe thùng (hay trên toa tàu lửa?), cùng Thầy Đỗng Minh đi đón Thầy Tuệ Sỹ ra tù. Những năm sau 1975, Thầy Tuệ Sỹ ra Nha Trang, Vạn Giã làm rẫy, người bạn đồng hành của Tuệ Sỹ là Thầy Phước An. Sau này mỗi dịp ra Nha Trang, Tuệ Sỹ cũng đều lên đồi Trại Thuỷ, nơi Phật học viện Hải Đức cũ uống trà đàm đạo cùng Thầy Phước An. Những năm cuối đời, Thầy Tuệ Sỹ đã cung cử Thầy Phước An ngôi vị Tăng Trưởng GHPGVNTN, bấy nhiêu cũng thấy được vị trí của Thầy Phước An trong lòng bậc tông tượng Thiền môn Thích Tuệ Sỹ.
Tôi được biết Thầy Phước An rất muộn, có lẽ đầu thập niên 90. Có lần tôi được mời ra Nha Trang dự lễ ra mắt Đặc san Hoa Hiếu Hạnh của thầy Nguyên Mãn, trong đó có bài viết của tôi: “Phật Giáo Nha Trang Xưa Và Nay – Đôi Điều Cảm Nhận”. Đêm ra mắt Đặc san có 2 vị khách mời đặc biệt: Thầy Phước An và nhà văn Võ Hồng – người nổi tiếng với những tuỳ bút trên các ấn phẩm Tư Tưởng, Giữ Thơm Quê Mẹ… trước 1975. Không ngờ Thầy Phước An biết tôi và khen ngợi những bài viết của tôi trên nhiều đặc san trước đó. Năm 2023, nhân chuyến hoằng pháp ở Nha Trang, tôi lên đồi Trại Thuỷ thăm vị Thầy ẩn mật. Tình cờ chị Lê Khắc Thanh Hoài, “người đàn bà năm con” của Phạm Công Thiện từ Paris gọi về thăm tôi. Tôi nói tôi đang ngồi với Thầy Phước An. Ba thầy trò mở loa cùng nói chuyện vui như hạnh ngộ. Không ngờ chị Hoài trước đó vẫn thường xuyên gọi về thăm hỏi vị thầy ở mãi trên đồi Trại Thuỷ xa xưa.
Hôm nay, những ngày cuối năm Ất Tỵ, đứng trước linh đường chùa Hải Đức sau khi cùng chư tôn đức GHPGVNTN đảnh lễ phúng viếng Giác Linh, ra trước cổng với những hàng trụ xi măng trên dốc cao trầm mặc, tôi bỗng nảy ra câu đối dâng Thầy trong niềm cảm xúc vô biên:
– Cây khế đồi cao, trỗ hết chẳng chừa dăm nụ Tết
– Rừng mai dốc thẳm, rụng dần chỉ sót một nhành Xuân.
Tôi đã mượn “Cây khế đồi cao” của Phạm Công Thiện để đối với “Nhất chi mai” đêm qua của Thiền sư Mãn Giác. Ai cảm nhận thế nào thì tuỳ cảm xúc của người đọc mà thôi!
Nha Trang, ngày tiễn đưa Thầy về cát bụi.
24 tháng Chạp năm Ất Tỵ
Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền.
