GIÁO DỤC TRẺ EM VÀ THANH THIẾU NIÊN – PHẬT GIÁO KHÔNG ĐỨNG NGOÀI CUỘC
Ngày nay, nếu chúng ta tìm kiếm trong Tam tạng kinh điển nhà Phật, chỗ nào đức Phật giảng dạy mà đối tượng chính là trẻ em hay thanh niên, thiếu nữ, thì thật sự khó có một nội dung cụ thể nào. Nhưng đứng ở một góc nhìn khác, một góc nhìn chiêm nghiệm, thì chúng ta sẽ thấy bàng bạc khắp nơi, rất nhiều kinh điển nói về điều này.
Câu Ca dao Việt Nam:
“Dạy con từ thuở còn thơ,
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.”
Câu Ca dao trên chỉ đúng với tình yêu thương và trách nhiệm gia đình theo truyền thống của người Việt. Đối với giáo dục Phật giáo thì lời Ca dao đó đã cũ và “lỗi thời”. Bởi vì giáo dục của nhà Phật chú trọng ngay khi trẻ nít còn ở trong thai mẹ (bắt đầu tuần 30 trở đi), chứ không phải đợi đến trẻ em đủ nhận thức. Qua bằng chứng văn bản Phật thuyết phúc trung nữ thính kinh (佛說腹中女聽經) – Kinh Phật nói về bé gái trong bụng nghe pháp, 1 quyển, do Đàm-vô-sấm (‘Dharma-rakṣa’ 385-433) người Thiên Trúc dịch thời Bắc Lương, xếp trong tạng Đại chánh 14, số hiệu 563, trang 914.
Trong vài thập kỷ gần đây, tốc độ biến đổi của xã hội vượt xa mọi giai đoạn trước đó: công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, toàn cầu hóa v.v. Trẻ em lớn lên trong một môi trường mà thông tin tràn ngập, lựa chọn vô hạn, nhưng cũng đầy rủi ro về tâm lý, bị ảnh hưởng phân tán, như thiếu thời gian tĩnh lặng, áp lực học tập, dẫn theo áp lực thành công, gia đình kỳ vọng, gọi chung khủng hoảng bản sắc. Vì vậy, triết lý giáo dục truyền thống, nhấn mạnh vào ghi nhớ, tuân thủ và khuôn mẫu không còn phù hợp. Người lớn và nền giáo dục tự hỏi: Làm sao để trẻ em trở thành con người tự chủ, có khả năng thích ứng, biết yêu thương và biết sống có trách nhiệm trong một thế giới phức tạp?
Phật giáo đã có trách nhiệm và trả lời câu hỏi đó từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch, qua những câu chuyện tình người, mẫu hình lý tưởng về đức Thích-ca tái sinh nhiều kiếp, làm quốc vương, Bà la môn, thương nhân, phụ nữ, hoặc các loài voi, khỉ, nai, gấu, v.v., để cứu độ chúng sinh trong hoạn nạn, hoặc tinh tấn cầu pháp, tạo các công đức thiện nghiệp, đó là tác phẩm Jataka, dịch là Bản sinh kinh (本生). Mặc dù một số người cho đó là những câu chuyện khô cứng, huyền thoại, thứ giáo lý “ru ngủ” thì một Phật tử phương Tây thức thời, đã phóng tác lại thành những câu chuyện cổ tích hiện đại, dí dỏm, phù hợp với tâm lý trẻ em phương Tây. Mỗi câu chuyện đều lồng ghép nhẹ nhàng bài học về tình yêu thương vạn vật, lòng dũng cảm, sự chia sẻ và cách vượt qua nỗi sợ hãi. Đó là Phật tử người Anh Dharmachari Nagaraja, ông chuyển hóa truyện Bản sinh vào ba tác phẩm: Buddha at Bedtime (Đức Phật trước giờ đi ngủ), The Calm Buddha at Bedtime (Đức Phật bình tâm trước giờ đi ngủ), The Buddha’s Apprentice at Bedtime (Học trò của Đức Phật trước giờ đi ngủ). Sách này cha mẹ đọc hay kể cho bé nghe trước giờ đi ngủ. Như thế não của trẻ nhỏ sẽ chuyển sang chế độ “an toàn” trước giờ ngủ nhờ Phật giáo rất nhiều.
Tôi về chùa Long Sơn (Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam) tu học từ năm 1994, được biết Ôn Đỗng Minh có cách giáo dục mấy chú điệu rất chi đặc biệt, ngoài việc các điệu thuộc lòng hai thời khóa tụng theo truyền thống, Ôn còn khích lệ, chỉ dạy các chùa tổ chức cho chúng điệu học thuộc kinh Pháp cú, thuộc nhiều thì Ôn thưởng sách vở, thêm lì-xì tiền. Đây là cách mà thời Phật còn tại thế đã làm, trong một giai đoạn lịch sử khi chưa có sách vở, bút mực để biên chép; giáo lý được truyền đạt hoàn toàn bằng miệng, do đó việc tụng niệm như vậy không phải là một hành động thuần túy thần bí hay thiền định, mà là một nhu cầu thiết yếu, một phương thức chuẩn mực duy nhất để ghi nhớ, đảm bảo rằng những giáo lý phức tạp và rộng lớn được ghi nhớ và truyền đạt một cách hoàn hảo mà không có sai sót.
Ngày nay, nếu ai về chùa Long Sơn sẽ thấy khắp nơi trên vách chùa, hậu tổ, trên vách trai đường, kể cả dọc đường núi dẫn lên tượng đài Kim thân Phật tổ, cứ khoảng cách đều đặn vài mét là chạm khắc một bài thi kệ Pháp cú. Cái thời tôi còn ở Long Sơn, mỗi trưa hè nằm chỉ tịnh trong liêu phòng bên cạnh con đường dẫn lên núi, vừa nghe bước chân khách thập phương viếng chùa, chầm chậm lần bước theo bậc thềm lên đồi, vừa nghe họ lẩm nhẩm kệ tụng:
“Hận thù diệt hận thù
Ðời này không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luật nghìn thu”.
Hoặc:
“Rồi đây thân xác này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất nằm vô thức,
Như gỗ mục bên đường.”
Đó là chứng tích lịch sử, nói lên nền giáo dục của Phật giáo không đứng ngoài lề xã hội, mà nó đồng hành với con người qua mọi thời đại, thích nghi tất cả mọi lứa tuổi. Thời thầy Tuệ Sỹ còn ở chùa Già-lam (Sài Gòn), thầy từng phát động phong trào hội họa hướng đến Gia đình Phật tử, lứa tuổi nhắm tới là dành cho các em nhỏ. Thầy nói, cảnh là thức ăn của thức, vẽ là nghệ thuật, giúp cho các em phát triển trí não, ảnh hưởng tốt vào tâm tư…
Trong Luật tạng bộ phái duy nhất luật Tăng-kỳ 23 (T22n1425, p. 417a21) của Đại chúng bộ là nêu rõ chương trình giáo dục dành cho thanh niên, tuổi trưởng thành khi mới vào chùa. Chương trình bắt buộc, tất cả sa-di phải thuộc lòng: (1). Tất cả chúng sinh đều y thức ăn mà tồn tại (一切眾生皆仰食, nhất thiết chúng sinh giai ngưỡng thực; Pāli: sabbe sattā āhāraṭṭhitikā), (2). Hai loại danh và sắc (二名色, nhị danh sắc; Pāli: nāmañca rūpañca); (3). Ba cảm thọ (三痛想, tam thống tưởng, là ba thọ: Lạc, khổ, không khổ không lạc); (4). Bốn Thánh đế; (5). Năm ấm (uẩn); (6). Lục nhập (六入, hay sáu nội nhập 內六入, nội xứ 內處; Pāli: ajjhattāyatana, hay ajjhattikāni āyatāni: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); (7). Thất giác ý (七覺意: niệm giác ý, trạch pháp giác ý, tinh tấn giác ý, hỷ giác ý, ỷ [khinh an] giác ý, định giác ý, hộ [xả] giác ý); [8]. Bát chánh đạo; (9). Chín cõi của chúng sinh cư trú (1. Chư Thiên và loài người. 2. Trời Phạm chúng [Phạm quang âm thiên 梵光音天] lúc mới sinh thời kiếp sơ. 3. Trời Quang âm [光音天] v.v.); (10). Mười nhất thiết nhập (Thập nhất thiết nhập 十一切入; cũng là mười biến xứ 十遍處. Skt. daśakṛtsnāyatanāni. Đây là pháp thiền quán về 10 đối tượng: đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không vô biên xứ, thức vô biên xứ). Sa-di phải tu học những pháp số này.
Dĩ nhiên nhiều người thành danh, thành nhân chi mỹ trong xã hội không hẳn họ là tín đồ Phật giáo, được hưởng hay học hỏi ở Phật giáo cái gì đó. Đức Phật không bao giờ muốn mọi người trên thế gian này trở thành đệ tử của Ngài, mà Ngài muốn mọi người trở thành đệ tử của điều thiện. Giáo dục thì có trăm ngàn đường lối, đường lối nào cũng được, nhưng miễn sao đường lối ấy phải dẫn đến trung tâm, tức chúng ta học theo ai, học với ai, học từ tôn giáo nào cũng phải có ý thức. Ý thức rộng hơn tri thức. Một đứa trẻ mà biết bao dung, biết nhìn nhận may rủi trong cuộc sống và nhận chân giá trị tình bạn… thì chúng đã được giáo dục có ý thức.
Tôi có người sư đệ, những năm sống dưới mái trường Phật học, anh ta luôn phấn đấu học tập và xem trọng vị trí ‘nhất’, ‘nhì’ trong bảng xếp hạng. Có năm thi hỏng, đứng thấp hơn người khác, đâm ra buồn rầu, biếng ăn, sinh ‘bệnh’. Sau đó, hàng ngày, mỗi sáng, tại chùa Long Sơn, anh ta cứ bắt xe bus đi Nha Trang – Thành (Diên Khánh), rồi Thành – Nha Trang, ngồi trên xe suốt ngày, chừng nào xẩm tối xe về bãi thì xuống. Thay vì trong vấn đề này, bằng cách quán chiếu ‘công danh cái thế vô phi đại mộng nhất trường’, hoặc nghĩ suy sâu sắc theo triết lý phương Đông ‘trong cái họa có cái phúc’ ‘mất ngựa chưa phải là rủi’.
Thiền (dhyāna), định nghĩa nghiêm túc là ‘cột tâm chuyên chú nhất cảnh’ nhưng các thiền sư phương Đông giải thích cởi mở hơn: ‘Thiền là phương pháp sống’ (Meditation is a way of being), sống sao an lạc, đem lại hạnh phúc cho mình cho người là được. Đây chính là hình thức giáo dục tư duy hiện đại và triết lý giáo dục Phương Đông, phương pháp giáo dục hướng nội để hoàn thiện. Tập tư duy chín chắn. Như chuyện ‘may-rủi’, ’tái ông thất mã’, người lớn ai cũng biết, song quán chiếu để vượt qua là cả một vấn đề. Phải ý thức, huân tập lúc còn nhỏ, do vậy mà Jon J. Muth ‘biến’ mẩu chuyện này thành câu chuyện thiền trong tác phẩm Zen Shorts (Thiền Truyện). Tác giả hư cấu nội dung có ba đứa bé tên Michael, Karl và Addy, gặp gỡ một chú gấu trúc khổng lồ tên là Stillwater (Nước Lặng). Chú gấu đã kể cho ba đứa trẻ nghe những câu chuyện Thiền. Trong truyện, Michael là người trò chuyện với Stillwater. Stillwater kể câu chuyện thiền “The Farmer’s Luck” –Vận may của người nông dân, hay mất ngựa chưa phải là rủi. Michael đại diện cho kiểu trẻ em đang học cách nhìn thế giới theo hướng rộng mở hơn, không vội đánh giá mọi việc là tốt hay xấu, hay tuyệt vọng bi quan trước cảnh đời họa-phúc.
Không phải ai cũng thành công khi sống dưới nền giáo dục của Phật giáo. Có người trước đây chưa biết uống rượu bia, khi vô chùa lại biết uống rượu bia. Có người từng ở trong chùa, khi ra đời trở thành phạm nhân là chuyện có thật. Phật giáo không có lỗi trong chuyện này, do người ta uống nhầm ‘thuốc’, chứ Phật không ‘kê toa’ lộn. Một đời đức Phật chỉ làm một việc là giáo dục, nhưng trẻ em lúc còn thơ thì gia đình là nơi bắt đầu mọi triết lý giáo dục. Cha mẹ phải cộng tác với Phật, dạy dỗ chúng dần dần. Khi lớn khôn, các em ý thức được sâu xa cái trách nhiệm nặng nề cho sự lựa chọn trên đường đời tế thế an bang thì Phật giáo sẽ giúp họ thấy rõ chính mình, từ đó biết cách sống an lạc giữa đời.
Tâm Nhãn
