HÌNH THỨC SÁM HỐI CỦA TỲ-KHEO PHẠM GIỚI VÀ VÀI NHẬN ĐỊNH
Gần đây có câu chuyện thời sự liên quan đời sống tỳ-kheo phạm giới dâm, khiến nhiều người Phật tử cũng như không phải Phật tử đều bức xúc, não lòng cho thời cuộc, luận bàn sôi nổi, nhưng đa số không hiểu luật Phật giáo hay quan điểm nhà Phật can thiệp thế nào?
Trước tiên, tôi xin dẫn chứng câu chuyện trong luật Phật giáo liên quan tỳ-kheo phạm giới dâm mà Phật cho phép sám hối, hiện tại Luật tạng bộ phái chính thống ký tải như sau:
Trong Phần Kiền-độ (Skandha), câu chuyện kể rằng tỳ-kheo Nan-đề, hay gọi Thiền Nan-đề (禪難提) hành dâm với con ngựa cái đã chết ở rừng Khai Nhãn (An-hoàn). Sau khi phạm giới, Nan-đề đau buồn, thành tâm kể lại sự thật. Phật dạy Tăng cho Thiền Nan-đề pháp yết-ma sám hối, với hình thức sám hối, mỗi bộ luật có tên gọi chút khác biệt. Luật Tăng-kỳ (26, T22n1425, p. 441b8) gọi là học hối ba-la-di (Tăng ưng dữ ba-la-di học hối yết-ma 僧應與波羅夷學悔羯磨). Luật Thập tụng (quyển 1, p. 2c29, quyển 57, p. 425a14), phần luật Tỳ-kheo (kinh Phân biệt) và Tì-ni tụng (Kiền-độ) đều nói Phật dạy Tăng trao cho tỳ-kheo Nan-đề “học pháp lại” (hoàn dữ học pháp 還與學法). Ngũ phần và Tứ phần, đặt câu chuyện này trong phần Kiền-độ và tường thuật rằng Phật dạy Tăng bạch tứ yết-ma trao cho Nan-đề học giới ba-la-di (ba-la-di bạch tứ yết-ma 波羅夷白四羯磨) (Ngũ phần 28, p. 182c10; Tứ phần 34, p. 809a8). Tạp sự (10, p. 245b13, phần Kiền-độ của Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ) ghi: Thế Tôn bảo các bí-sô, cho Hoan Hỷ (Nan-đề, tiếng Phạn Nandi, dịch là hoan hỷ) học xứ trọn đời (Dữ Hoan Hỷ chung thân học xứ 與歡喜終身學處).
Và luận Câu-xá (15, T29n1558, p. 79c14) lý giải: Tỳ-kheo Nan-đề phạm ba-la-di, do cực kỳ tàm quý, khẩn thiết sám hối, được cho lại học xứ tỳ-kheo, không bị diệt tẫn (đuổi khỏi Tăng đoàn), pháp sám hối gọi là “thọ học bí-sô 授學苾芻”, hay gọi dữ học xứ (śikṣādattaka). Luận Câu-xá còn dẫn chứng ý kiến các luận sư Tì-bà-sa và luận sư Kinh bộ đều giải thích tỳ-kheo Nan-đề chưa mất giới thể do còn tâm xấu hổ tàm quý.
Luật Thập tụng giải thích: Trường hợp tỳ-kheo phạm ba-la-di như vậy, sau khi Tăng cho học pháp trở lại, thì người này học lại pháp của sa-di. Tất cả pháp mà Phật kết từ trước tới giờ đều phải phụng hành trọn đời. Người này phải ngồi dưới các tỳ-kheo, phải hầu cơm, nước, thuốc thang cho Đại tỳ-kheo. Vị này theo sa-di, bạch y dùng cơm nước, không được ở chung phòng với Đại tỳ-kheo quá hai đêm, cũng không được ngủ chung với bạch y, sa-di quá hai đêm, không được cùng tỳ-kheo đủ giới tham dự bố-tát, tự tứ, nhị yết-ma. Cho học sa-di là không được tính vào số Tăng bố-tát, tự tứ, yết-ma. Tất cả pháp yết-ma người này không được làm.
Luật Tăng-kỳ, Tứ phần, Ngũ phần và Tạp sự giải thích gần tương tự với Thập tụng, nhưng Tứ phần nói thêm, nếu phạm lại lần nữa thì diệt tẫn. Luật Tăng-kỳ thêm chi tiết: Dạy cho tỳ-kheo ấy không được làm điều phi Phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được nói dối, không được uống rượu. Nếu phạm lại một trong bốn giới ba-la-di, thì phải đuổi đi. Còn các giới tăng-già-bà-thi-sa trở xuống cho sám hối tội đột-kiết-la. Trong Tạp sự thêm chi tiết khá nhiều: Sau khi bí-sô Hoan Hỷ được Tăng cho học xứ trọn đời, không chịu tu tập thiện phẩm. Phật dạy phải tu tập để đoạn trừ phiền não, không tu sẽ đắc tội. Bí-sô Hoan Hỷ tinh tấn nỗ lực tu tập, chứng A-la-hán, nhưng vẫn tuân thủ những quy chế trước đó không trái phạm. Phật cho phép, không cần hành pháp cũ nữa, được ngồi theo thứ tự, còn trụ bản tính nhân, được cộng trụ.
Việc cho Thiền Nan-đề sám hối, ngoài những tác phẩm kể trên, trong Tát-bà-đa bộ tì-ni ma-đắc-lặc-già (3, p. 582c27; 6, p. 601b21), Tì-ni mẫu kinh (3, p. 813a03, 7, p. 839a27, gọi là tỳ-kheo Nan-đề-già 難提伽比丘), Bách nhất yết-ma 5 (p. 476b28) cũng có đề cập.
Như vậy, chúng ta thấy, thứ nhất luật Phật giáo giúp cho tỳ-kheo biết tàm quý, phục thiện sửa lỗi, cho họ cơ hội làm lại. Không phải người ta ngã rồi đạp họ luôn. Không có chuyện đó. Nhưng với điều kiện biết sửa sai và tu tập lại có tiến bộ tâm linh.
Thứ hai, nếu một Tăng đoàn sinh hoạt Phạm hạnh như thời Phật thì đều có thể xử trị tất cả những thành phần bất hảo trong Tăng. Ngược lại, một tổ chức mục ruỗng, ví dụ mạnh ai nấy sống, mạnh ai muốn ra riêng thì ra, muốn lập thất, cất cốc tùy ý, tự vỗ ngực xưng là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni tùy tiện thì miễn thảo bàn.
Thứ ba, một người vào đạo từ Pāli gọi là “Upasampadāpekkho”, có nghĩa “mong muốn tu lên bậc trên”, Hán dịch “thọ cụ túc 受具足”, Anh dịch “candidate for Acceptance” là “ứng viên được xác nhận”. Nghĩa là ông đó đã được Tăng xác nhận, và sẽ có vị thầy Hòa thượng đứng ra giáo dục ông ta. Ngày nay còn thêm một cuộc khảo hạch trình độ học vấn cả đời lẫn đạo, mới trúng tuyển làm Tăng. Chứ không phải cô này, anh nọ, tự cạo đầu, mặc đồ tu, vào chùa chỉ biết hát ca, đàn địch, “giảng pháp” toàn kiến thức thế tục, nặng mùi tục tằn nam nữ v.v… Những loại biến tướng lai tạp như vậy, đem gán ghép, đánh đồng cho Phật giáo thì tội nghiệp cho Phật giáo!
Cuối cùng, chúng ta cần thấu hiểu, vô chùa không phải cạo đầu, đắp y phục nhà chùa là xong. Không hạ thủ công phu thì như con cọp đói, đói nhiều thứ mà phiền não muốn thỏa mãn. Gặp điều kiện thì vồ chộp. Mà khổ nỗi, loại thức ăn ái dục như uống nước muối, càng uống càng khát. Pháp tu thường ngày toàn là ảo giác, ảo tưởng, một hình thức tu tập gãi ngứa ngoài da giày, hay đá đè cỏ. Người tu cần đủ giới, định, tuệ. Giới là giữ giới miên mật; định là hành thiền đến nỗi mông chai sạn; tuệ là nhận thức bằng trí tuệ vô lậu mới có thể giải thoát những đau khổ của kiếp người. Và nên nhớ rằng trí tuệ này phải được đặt trong các qui ước sinh hoạt do Phật chế định, đó là nền tảng để hướng đến phát triển tâm linh, nâng cao phẩm chất đạo đức của mỗi cá thể nếu đã đứng trong hàng ngũ xuất gia.

Tâm Nhãn