KARL JASPERS VIẾT VỀ ĐỨC PHẬT (trích)

KARL JASPERS VIẾT VỀ ĐỨC PHẬT (trích)

Như Huy dịch

Không có gì là mới mẻ cụ thể nơi giáo lý của Đức Phật, trong thuật ngữ, các hình thức tư tưởng, cách quan niệm, hay hành động. Phép tu khổ hạnh hay các cộng đồng tu khổ hạnh và đời sống tu hành cũng đã có từ trước rồi. Các ẩn sỹ sống trong rừng đến từ nhiều đẳng cấp xã hội và được coi là các vị Thánh bất chấp xuất thân của họ. Ý niệm về sự giải thoát nhờ vào nhận thức thì cũng đã có từ trước khi Đức Phật xuất hiện, như trong môn Yoga (con đường giải thoát nhờ vào các trạng thái thiền định). Và Đức Phật cũng mặc nhiên thu nhận các sự quan niệm trước đó về vũ trụ, về độ tuổi của cõi thế, và về cõi Thần linh. Toàn bộ giáo lý Phật giáo có lẽ chỉ là sự hoàn hảo hoá cái hình thức sống kiểu Ấn độ giáo đặt cơ sở trên những cái siêu nghiệm, tức như một sự tập đại thành của triết học Ấn giáo

Phạm trù về sự “mới mẻ” xét như một tiêu chuẩn cho giá trị là thứ chỉ dành cho Thế giới phương Tây hiện đại. Song thậm chí cả khi tất cả những sự kiện cụ thể trong cuộc đời và tư tưởng của cái nhân vật vĩ đại này bị xem là chẳng có gì mới mẻ, thậm chí cả thế, -thì ta vẫn có thể thấy rằng có một số yếu tố nào đó, chính xác là, các yếu tố đến từ cái ảnh hưởng vĩ đại của Đức Phật -, là hoàn toàn phù hợp với phạm trù về sự mới mẻ

A. Trước hết, đó là cá-nhân-tính đầy áp đặt của Đức Phật. Qua các truyền thuyết, ta có thể cảm thấy được sự hiện diện mạnh mẽ của cái nhân vật có thật trong lịch sử này. Ngài bảo cho con người biết họ phải làm gì. Tuy nhiên, ngài lại để ngỏ không nói gì về nền móng siêu hình của sự tồn tại và sự vô minh. Chính bởi qua sự lặng thinh này mà Sakyamuni (Con Người Im lặng của Gia Tộc Thích ca) dường như đã tạo ra sức ảnh hưởng áp đặt của mình

Cuộc đời của ngài được tạo ra từ một nỗ lực ý chí mãnh liệt. Trong truyền thuyết, đạo sỹ Asita (A tư đà) đã tiên đoán rằng đứa trẻ mới sinh ra đời này hoặc sẽ là một đại đế, hoặc sẽ là một Buddha (nghĩa của Buddha là: bậc đại giác). Song với Đức Phật (Buddha), cái ý chí chinh phục và thay đổi thế giới không liên quan đến mong muốn có được quyền lực tối cao và toàn vẹn đối với con người. Ý chí về quyền lực tối cao của Đức Phật là dùng để chiến thắng bản thân, là để không chấp nhận làm tù nhân của chính mình hay của các hành vi thuộc đời sống. “Chế ngự được sự kiêu ngạo của ngã tính ương bướng chính là niềm hạnh phúc lớn lao nhất”

Sự tự thắng của ngài hoàn hảo tới mức không hề có dấu hiệu của cố gắng. Đời sống tinh thần của Đức Phật, bởi được giải thoát khỏi mọi ràng buộc, đã hiển lộ qua vẻ cao quý, sự thanh thản và các cử chỉ dịu dàng vô hạn. Ngài không bao giờ bận tâm tới đời sống riêng tư và các bí mật cá nhân của con người; Những thứ ấy bị cuộc đời thực tế siêu thoát của chính ngài đẩy lùi. Ngài là điều gì đó phi cá nhân; vô số Đức Phật (bậc đại giác) khác trong các kỷ nguyên trước đây của cõi thế đều đã làm giống như ngài, và các Đức Phật trong tương lai cũng sẽ làm y như thế. Ngài huỷ giải bản thân xét như một cá nhân giữa vô số những người giống ngài, “Không nhà cửa không gia đình, tinh thần của ta tách biệt khỏi cõi thế, ta bước đi ở ngoài mọi ràng buộc với con người”. Không ai biết về ngài:” Đức Phật đi xuyên vào cõi vô hạn, không để lại dấu vết; làm thế nào các ngươi thấy được ngài?”

Sự không có mọi diện mạo cụ thể là bộ phận của hình ảnh nơi chúng ta về cá nhân tính của Đức Phật. Ngài hoàn toàn không có cá nhân tính riêng biệt. Hoàn toàn không có sự khác nhau quan trọng nào giữa Đức Phật và các môn đệ xuất sắc của ngài, hay giữa các môn đệ ấy với nhau. Họ đều là các vị tiểu Phật. Đức Phật xuất hiện như là một hình loại, chứ không như một cá nhân tính. Đối lập với ngài là các hình loại khác, tức những kẻ còn u mê, những kẻ không tin tưởng, những kẻ giảo biện. Nói một cách nghịch lý, đây là một cá nhân tính có được ảnh hưởng từ chính sự huỷ giải mọi đặc điểm cá nhân. Sự phủ định tự ngã là nguyên tắc cơ bản trong chân lý của Đức Phật. Kinh nghiệm nền móng của Đức Phật không thể bao giờ là một kinh nghiệm về ngã tính lịch sử, mà chỉ là kinh nghiệm về chân lý được đạt tới trong sự tự huỷ. Đây là sức mạnh của cái cá nhân tính mà không kèm theo cái ý thức của Trung Hoa hay Phương Tây về tính cá thể

B. Một đặc điểm mới mẻ khác là việc Đức Phật đã làm được một cách toàn vẹn và triệt để những gì trước đây từng được làm ở chỗ này hay chỗ khác một cách cục bộ. Ngài không tiếp tục làm theo truyền thống, mà trên hết, là không tiếp tục tuân theo hệ thống đẳng cấp và quyền năng tối thượng của Thần linh. Ngài không chống lại các thần linh, ngài công nhận họ như các thực tại trong hệ thống vận hành cõi thế. Tuy nhiên, dẫu không hạ bệ họ, ngài vẫn quy giảm vai trò của họ đến mức không có tầm quan trọng

Ngài đã cấp tiến khi hướng tới tất cả chúng sinh. Điều mà trước đây từng chỉ dành cho số ít thì nay ai cũng có thể trải nghiệm. Điều từng chỉ xảy ra trong các nhóm ẩn sỹ nhỏ trong rừng thì nay được tổ chức để có thể xảy ra công khai, nơi các đô thị, các vùng quê, giữa mọi người, qua các cộng đồng tu hành mà ngày càng có thêm nhiều người tham gia. Một thực tại đời sống mới mẻ đã xuất hiện: Đó là đời sống của một khối lượng khổng lồ các nhà sư hành khất, tức những người trải nghiệm thực sự giáo lý qua chính cuộc đời nghèo khổ, trong sạch, vô gia cư và không vướng bụi trần, và cùng với đó là những người mộ đạo cung cấp cho các nhà sư này các nhu cầu vật chất

Thực ra, hầu hết các nhà sư đều có xuất thân từ hai đẳng cấp cao hơn. Chúng ta nghe nói phần lớn họ là “những quý tộc trẻ”. Bản thân Đức Phật có xuất thân quý tộc . Theo học thuyết Phật giáo sau này, một Đức Phật chỉ có thể được sinh ra sẵn là một Brahman (tu sỹ Bà la môn) hay một quý tộc. Phật giáo là một tôn giáo quý tộc, và điều này sẽ vẫn còn mãi như thế chừng nào chỉ có những con người thuộc về một một tầm trí tuệ nào đó mới có thể hiểu được nó. Song sự giác ngộ thì lại sẽ tới với tất cả những ai có tâm nguyện muốn đạt tới nó, và về nguyên tắc, -thì nó sẽ tới với tất cả chúng sinh; Chẳng phải Đức Phật đã dạy rằng mỗi người phải học giáo lý của ngài qua chính thứ ngôn ngữ của mình hay sao?

Thành thử, lần đầu tiên trong lịch sử, ý tưởng về nhân tính, ý tưởng về một tôn giáo, dành cho toàn bộ cõi thế đã trở thành hiện thực. Các rào cản của đẳng cấp, quốc gia tính, của mọi sự phụ thuộc vào một trật tự xã hội từng được thiết lập lâu đời đều bị phá huỷ. Thứ mà tại Ấn độ lâu nay từng là bí mật được bảo vệ cẩn mật chỉ dành cho một vài nhân vật có đặc quyền thì giờ đây đã trở thành một chân lý khả giác dành cho tất cả mọi người

Nếu so sánh giáo lý này với các tôn giáo có tính toàn cầu sau này như của các nhà Khắc Kỷ, các tín đồ Ki-tô giáo, hay đạo Hồi, thì thứ làm nên đặc điểm của Đức Phật chính là việc ngài không chỉ quan tâm tới con người mà còn tới mọi sinh linh khác-tới cả thần linh lẫn chim thú-, cũng như việc sự giải thoát mà ngài tìm thấy là có ý nghĩa cho cả muôn loài

Nói với tất cả thì cũng chính là nói với từng cá nhân. Quyết định của Đức Phật và cái đời sống là hệ quả của quyết định đó đã trở nên một khuôn mẫu (model); Sự thoát khỏi các luật lệ của gia đình, dòng họ hay xã hội. Ngài nói với tất cả những ai lắng nghe ngài như thể đó là những người cũng sở hữu năng lưc vượt ra khỏi cõi thế giống ngài: tất cả đều phụ thuộc vào quyết định của chính ta. Qua sự chọn lựa dứt khoát của mình, Đức Phật đã khôi phục được con người xét như một toàn thể

Song cái lòng tin mà con đường giải thoát này đòi hỏi lại chính là một kiểu nhận thức. Mặc dù Đức Phật bác bỏ sự tư biện kiểu truyền thống khi xem nó là địa bàn của các sự cãi cọ vô hướng và chỉ có hại, ngài vẫn tôn trọng nguyên tắc của Ấn độ giáo, -đó là nguyên tắc xem sự giải thoát là một nhận thức, tức nguyên tắc xem sự giải thoát chính là cái tuệ kiến mà ta sẽ sẽ đạt tới vào lúc được giải thoát

Đức Phật nói với từng cá nhân và nói trong các nhóm nhỏ. Các bài học và đối thoại là để giúp dọn chỗ cho cái tuệ kiến mà mỗi người sẽ phải tự mình đạt tới bằng chính hành động của mình. Có nhiều nghiên cứu về cách mà lời giảng của Đức Phật đã tạo được xung lực thúc đẩy người nghe thực hiện nhiệm vụ này, tức về việc làm thế nào mà những lời giảng ấy lại khiến người nghe đột ngột vỡ lẽ ra chân lý:”Thật lạ lùng, y như thể có ai đó tổ chức lại những gì trước đó vẫn ngổn ngang, hoặc tiết lộ điều chưa hề có ai biết, hoặc chỉ đường cho người đi lạc, hoặc thắp đèn lên giữa đêm tối – thậm chí, chính Cồ Đàm còn giải thích kỹ lưỡng giáo lý của mình theo nhiều cách nữa.

c. Bởi giáo lý là dành cho từng cá nhân và dành cho toàn bộ các cá nhân, bởi nó tự biết nó chính là cái ngọn đèn phải được đem vào cõi thế và thắp sáng khắp nơi, thế nên đã có một yếu tố mới xuất hiện; Một nhiệm vụ được ý thức. Theo đó, ngay tự khởi thuỷ, Đức Phật đã lập ra một cộng đồng tu hành, tức điều đồng thời có hai trách nhiệm: là con đường giải thoát cho cá nhân và là phương tiện tuyên truyền giáo lý bằng cách lan toả nó khắp cõi thế

Note: Bản quyền bản dịch của Như Huy

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận