KINH KIM CANG TRONG TỪNG HƠI THỞ
Thành tâm tán thán công đức Ôn Phước An
Ngày 1 tháng 2 năm 2026, trong căn phòng tĩnh lặng nơi Ôn Phước An đang điều trị tại Bệnh viện 22/12 Thành phố Nha Trang, hình ảnh Thượng Tọa Giác Nghĩa (Trụ trì Chùa Vạn Đức & Chùa Phước Trí, Nha Trang) cầm quyển Kinh Nhật Tụng, chậm rãi tụng Kinh Kim Cang âm Hán–Việt, đã trở thành một khoảnh khắc không thể nào quên.

Đây không phải là một thời kinh trên điện Phật. Không có tiếng chuông mõ, không nghi lễ trang nghiêm. Chỉ có hơi thở đều đều của người đang nằm trên giường bệnh, chỉ có tiếng kinh trầm lắng vang lên, và một trái tim tỉnh thức đang lặng lẽ lắng nghe trong thinh không.
Khi Thượng Tọa Giác Nghĩa tụng đến những đoạn trúc trắc, không rõ chữ của bản Kinh Kim Cang âm Hán–Việt dài gần năm nghìn từ, Ôn Phước An bỗng mở mắt, nhẹ nhàng nhắc lại từng chữ. Thượng Tọa giật mình, không phải vì bất ngờ, mà vì xúc động. Bởi Kinh Kim Cang không phải là bản kinh dễ thuộc, lại càng không dễ nằm lòng trong hình thức âm Hán–Việt cổ kính, như đoạn:
“Thị cố Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát Ma-ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
(Nghĩa: Thế nên Tu-bồ-đề, các Bồ-tát lớn nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh, không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia).
Ấy vậy mà Ôn nhớ rõ mồn một. Nhớ như hơi thở ra vào. Nhớ như dòng máu ấm vẫn đang lặng lẽ chảy về tim. Nghe lời tâm sự của Thượng Tọa Giác Nghĩa qua điện thoại viễn liên, người viết chợt nhận ra rằng Kinh Kim Cang nơi Ôn Phước An không còn là chữ nghĩa mà đã trở thành mạch sống, là tâm hành, là chỗ an trú thường nhật của một bậc tu sĩ đã sống trọn đời với Bát Nhã.

Ngày 01/02/2026, TT Giác Nghĩa tụng kinh Kim Cang bên giường bệnh Ôn Phước An
Hình ảnh ấy khiến người viết nhớ lại những trang văn Ôn Phước An từng viết về “Lục Tổ Huệ Năng và hình ảnh thi ca” vào năm 1998. Kinh Kim Cang vốn là bản kinh tinh yếu, khoảng năm nghìn chữ, được chưng cất từ bộ Đại Bát Nhã khoảng năm triệu chữ, sáu trăm quyển, bản kinh đã giúp chú tiều phu bán củi năm xưa khai ngộ, để rồi trở thành vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa. Hẳn nhiên, Ôn Phước An đã tâm đắc sâu xa bản kinh này từ thuở rất sớm, để rồi thuộc lòng như hơi thở, như mạch sống của chính mình.
Từ đó, Ôn đã đặt ra một vấn đề lớn của thời đại: trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, khi văn minh vật chất đạt đến đỉnh cao nhưng tâm thức con người ngày càng hoang mang, nhân loại có lẽ cần học lại từ đầu tinh thần “bất tri”, điều từng khiến Lục Tổ Huệ Năng bị Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn mắng: “Nhĩ giá lạp lão bất tri” (Con người man rợ này chẳng biết chi hết), để mong tìm ra một nền văn minh đích thực cho chính mình.
Dựa trên nhận định của Giáo sư Nguyễn Lang, Ôn Phước An khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa Thiền và thi ca: thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca, cũng như Thiền rơi vào suy luận siêu hình thì không còn là Thiền. Thiền chân chính luôn gắn với thực tại sống động, cụ thể, chứ không phải những khái niệm trừu tượng.
Ôn Phước An cho rằng chính Đức Phật là người khai mở nguồn cảm hứng thi ca và nghệ thuật lớn nhất: từ khoảnh khắc giác ngộ khi sao mai vừa mọc, cho đến gần năm mươi năm hoằng pháp bằng những bài kệ vừa giản dị vừa bay bổng, tiêu biểu trong các kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm, Bát Nhã.
Dòng Thiền từ Ấn Độ sang Trung Hoa, do Bồ Đề Đạt Ma khơi nguồn và được Lục Tổ Huệ Năng hoàn tất, đã hòa nhập sâu vào tinh thần thực tiễn của văn hóa Trung Hoa, trở thành một trào lưu tâm linh và thi ca rực rỡ thời nhà Đường.
Lục Tổ Huệ Năng, tuy không phải là một thi nhân, nhưng đã dùng ngôn ngữ đầy hình ảnh để diễn đạt chân lý Thiền, tiêu biểu qua khái niệm “bản lai diện mục”, mở ra một chân trời sáng tạo mới cho Thiền Đông Á, như nhận định của D.T. Suzuki.
Ảnh hưởng của Thiền Huệ Năng lan sâu vào văn học Việt Nam, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, với điểm chung là sự trở về vô ngôn, im lặng, trực nhận thực tại, vượt ngoài chữ nghĩa.
Ôn Phước An từng nhận định rằng: Càng văn minh, con người càng dễ lạc lõng; chỉ khi buông bỏ chấp trước tri thức, trở về với tâm hồn mộc mạc, chất phác như tinh thần Thiền Huệ Năng, con người mới có thể tìm lại ý nghĩa sống, cái đẹp và con đường giải thoát chân thật.
Hôm nay, chính Ôn Phước An đang sống trọn vẹn tinh thần ấy. Không cần diễn giảng, không cần giải thích, chỉ một hơi thở hòa cùng câu kinh cũng đủ nói lên cả một đời tu học.
Trong giờ phút sinh tử cận kề, Ôn không nắm giữ gì ngoài Kim Cang: vô trụ, vô đắc, vô ngã. Vô tu, vô chứng. Chữ nghĩa dài ngắn không còn quan trọng; chỉ còn lại tánh nghe trong trẻo, rõ biết, hiện tiền, lặng lẽ soi đường. Đó chính là “vô tự chân kinh” mà bao thế hệ hành giả hằng tìm kiếm.
Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Phước An sinh năm Kỷ Sửu (1/12/1949) tại xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định, được xem là một Tăng sĩ trí thức tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam đương đại, kết hợp hài hòa giữa đời sống thiền môn, học thuật và văn hóa. Ngài lưu trú tại Chùa Hải Đức, thành phố Nha Trang trong hơn 50 năm qua, đây là một ngôi cổ tự tọa lạc trên đồi Trại Thủy, tiền thân là Phật Học Viện Trung Phần trước năm 1975, một trung tâm đào tạo Tăng tài quan trọng của Phật giáo miền Trung.
Trong nhiều thập niên qua, Đức Trưởng Lão Hòa Thượng là Giáo phẩm cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, Viện Hóa Đạo (giai đoạn 2003-2008, xem bài). Ở cương vị này, Ngài đã đóng góp bền bỉ và sâu sắc cho công cuộc gìn giữ, phục hưng và phát huy di sản văn hóa, tư tưởng Phật giáo Việt Nam, đặc biệt trong những giai đoạn lịch sử nhiều biến động.
Ngày 29 tháng Giêng năm Giáp Thìn (nhằm 09/03/2024), tại Chùa Phật Ân, Long Thành, Tăng Nghị của Chư Tôn Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương đã cung thỉnh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Phước An đảm nhiệm trọng trách Thủ Tòa Pháp Tòa Hoằng Giáo, thuộc Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương GHPGVNTN, một sự ghi nhận xứng đáng đối với đạo hạnh, học vấn và uy tín tinh thần của Ngài.
Tiếp đó, trong khuôn khổ Lễ Chung Thất Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan (1928–2024), được cử hành trọng thể tại Chùa Phật Ân, Long Thành, Tăng Nghị của Chư Tôn Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương đã nhất tâm cung thỉnh Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Phước An đảm nhiệm ngôi vị Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Nơi Ôn Phước An, người đọc và người học đạo nhận ra hình ảnh một thiền giả, học giả, tao nhân, sống lặng lẽ giữa đời thường nhưng tâm thức luôn rộng mở trước những thao thức của con người và thời đại. Dẫu nhiều lúc nhìn thẳng vào thực tại còn lắm điêu linh, Ngài vẫn không rơi vào bi quan, mà kiên trì giữ một niềm tin sâu xa vào phẩm giá con người và ánh sáng của ngày mai. Từ chiều sâu ấy, Ôn đã tìm thấy nơi tư tưởng Ức Trai Nguyễn Trãi (1380–1442) một sự tương thông hiếm có, được gởi gắm qua hai câu thơ:
“Chắc chi thiên hạ đời nay
Mà đem non nước làm rầy chiêm bao.”
Đây không phải là lời than vãn thế sự, mà là tiếng nói của một tấm lòng thao thức vì đất nước, xứ sở, đến mức nỗi ưu tư ấy đã thấm vào cả giấc mộng. Khi mượn hai câu thơ này để soi chiếu, Ôn như đã nói lên chính thân phận mình: một người chọn đời sống ẩn lặng của thiền môn, nhưng chưa từng quay lưng với vận mệnh con người và non sông. Non nước vẫn hiện diện trong tâm thức Ngài, không như gánh nặng của quyền lực hay danh vọng, mà như một nỗi lo từ bi, âm thầm, bền bỉ, không thể dứt rời. Bởi vậy, nơi Ôn Phước An, ta thấy rõ sự hòa điệu giữa nội tâm và thế sự: sống an nhiên giữa đời mà không thờ ơ trước khổ đau; an trú trong tịch lặng nhưng vẫn thao thức về một ngày mai tươi sáng.
Với vai trò là nhà nghiên cứu và biên khảo, Đức Trưởng Lão Hòa Thượng đã xuất bản ba tác phẩm tiêu biểu:
1/ Đức Phật trên cõi Phù Du (tái bản lần 3 năm 2022, mời xem): là một tác phẩm giàu chiều sâu tư tưởng và thiền vị của Ôn Phước An, nơi đạo và thơ, triết học và đời sống, lặng lẽ giao thoa. Cuốn sách không trình bày Đức Phật như một nhân vật lịch sử khô cứng, mà như một hiện hữu sống động giữa cõi đời vô thường, nơi từng bước chân hoằng hóa đều thấm đẫm từ bi và tỉnh thức. Từ đêm sao Mai mọc dưới cội Bồ-đề đến những nẻo đường thôn dã của nhân gian, tác giả dẫn người đọc đi vào thế giới của Thiền bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giản dị mà thâm sâu. Những suy tư về thi ca, triết học Đông–Tây, từ Lục Tổ Huệ Năng, Khổng Tử, Buddhaghosa, Bùi Giáng cho đến Rabindranath Tagore, Lev Tolstoy, Heidegger… không nhằm phô diễn học thuật, mà để soi chiếu một điều cốt lõi: con đường trở về chính mình. Xuyên suốt tác phẩm là tinh thần “vô ngôn”, nơi chân lý không nằm ở khái niệm mà hiển lộ trong đời sống thường nhật: gánh nước, đốn củi, bước đi, im lặng. Đức Phật trên cõi phù du vì thế không chỉ là một cuốn sách để đọc, mà là một lời mời gọi chiêm nghiệm, để người đọc lắng lại giữa dòng đời biến động và nhận ra Linh Sơn vẫn còn đó, ngay trong tâm mình
2/ Đường Về Núi Cũ Chùa Xưa (tái bản lần 4 năm 2024, mời xem): là tập sách thứ hai của Ôn Phước An, được thai nghén và viết trong những năm cuối thập niên 1980 cho đến đầu 1990, tại am nhỏ trên Đồi Trại Thủy, Chùa Hải Đức, Nha Trang. Tác phẩm là một hành trình chiêm nghiệm lặng lẽ, đưa người đọc trở về với cội nguồn văn hóa, tâm linh và quê hương Việt Nam. Lấy cảm hứng từ tư tưởng của Triết gia Phạm Công Thiện về “lắng nghe tiếng nói thì thầm của tổ tiên”, tác giả gửi gắm thông điệp: con người chỉ thật sự sống trọn vẹn khi biết quay về ngôi nhà nội tâm của chính mình. Xuyên suốt tập sách là ba chủ đề lớn: tình yêu quê hương đất nước qua vẻ đẹp mộc mạc của làng quê Việt; khả năng nhận ra cái đẹp ngay trong những sự vật bình dị đời thường; và khát vọng tự do, con đường đòi hỏi dấn thân, vượt ghềnh thác để đạt tới chiều sâu nhân bản. Qua những trang viết thấm đẫm thiền vị, dẫn dắt bằng thi ca và tư tưởng của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Tuệ Trung Thượng Sỹ…, Đường Về Núi Cũ Chùa Xưa như một con thuyền chậm rãi, đưa người đọc trở về bến bờ yêu thương, tỉnh thức và an trú giữa cõi đời biến động.
3/ Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng (xuất bản lần 1 năm 2020, mời xem): đây là một tập tiểu luận, hồi tưởng đặc sắc khác của Ôn Phước An, ghi lại những bóng dáng lớn của văn học, thi ca và tư tưởng Việt Nam hậu bán thế kỷ XX như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Quách Tấn, Võ Hồng. Không viết như một công trình nghiên cứu hàn lâm, tác phẩm là dòng hồi ức thấm đẫm cảm xúc, nơi tác giả kể lại những năm tháng tuổi trẻ được sống gần gũi, lắng nghe và đồng hành cùng các bậc tài hoa trong hành trình đi tìm cái đẹp. Nhan đề sách được mượn từ một câu thơ của Triết gia Phạm Công Thiện, gợi lên nỗi hiu quạnh của quê hương, không chỉ là quê hương địa lý mà còn là quê hương tâm linh, nơi con người mãi đi tìm giữa những biến động đời sống. Qua từng trang viết, người đọc bắt gặp nỗi cô đơn sâu thẳm của người nghệ sĩ, một cô đơn không phải vì xa người, mà vì mang trong lòng quá nhiều yêu thương và hoài bão cho cuộc đời. Những buổi chiều Nha Trang, những ngôi nhà cũ, gian phòng vắng, cây khế trổ bông trên đồi cao… hiện lên như những biểu tượng của cái đẹp mong manh và tịch liêu, nhưng cũng chính từ đó mở ra những chân trời tự do và tỉnh thức. Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng là một cuốn sách đọc chậm, đọc lặng, để người đọc soi thấy nỗi cô đơn của người sáng tạo, và cũng là để nhận ra chính mình trong cõi người hiu hắt mà thâm trầm yêu thương.
Ngoài các tác phẩm in thành sách, Ngài còn để lại một gia tài phong phú các khảo luận, bút ký, tùy bút đăng tải trên nhiều trang mạng Phật học và văn hóa uy tín như Quảng Đức, Thư Viện Hoa Sen, Đạo Phật Ngày Nay, Hoa Vô Ưu… Nội dung trải rộng từ Thiền học, lịch sử Phật giáo Việt Nam, văn học, thơ ca, đến các cuộc đối thoại Đông – Tây qua những nhân vật và tư tưởng lớn như Krishnamurti, D.T. Suzuki, Meister Eckhart, Lục Tổ Huệ Năng, Tuệ Sỹ…
Văn phong của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng không nhằm thuyết phục bằng giáo điều, mà dẫn người đọc trở về với kinh nghiệm sống, nơi con người tự đối diện, tự giải phóng và tự thắp sáng nội tâm mình. Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong đời sống và trước tác của Ngài: Thiền không xa cuộc đời, đạo không lìa thân phận, và hy vọng vẫn âm thầm nảy nở giữa vô thường.

TT. Nguyên Tạng (chủ biên trang nhà Quảng Đức) về thăm Ôn Phước An năm 2024
Chúng con từ phương xa Úc Châu, thành kính tán thán công đức Ôn Phước An, bậc long tượng của ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, người đã đem trọn một đời để hộ trì và bảo vệ Chánh pháp.
Đến phút cuối, Ôn không nói lời giáo huấn, nhưng hình ảnh Ôn mở mắt nhắc lại từng chữ Kim Cang đã là bài pháp sâu nhất, đẹp nhất và xúc động nhất cho hàng hậu học chúng con.
Nguyện đem công đức lành này hồi hướng khắp pháp giới chúng sanh. Nguyện cho ánh sáng Kim Cang Bát Nhã mà Ôn đã sống và đã thở, tiếp tục soi chiếu con đường tu học của bao thế hệ mai sau.
Thành kính nguyện cầu chư Phật mười phương, chư Lịch đại Tổ sư từ bi gia hộ cho Ôn Phước An bệnh chướng sớm tiêu trừ, tiếp tục trụ thế lâu dài để làm ngọn đèn tuệ soi đường cho hàng Tăng Ni và Phật tử hậu học.
Nam mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Tu Viện Quảng Đức, ngày 5 tháng 2 năm 2026
Tỳ-kheo Thích Nguyên Tạng
Xem toàn tập: phatviet.info/thichphuocan