Mừng Phật Đản, Đọc Sách Thiền
Nguyên Giác
Trong Thiền Tông, ý nghĩa của Phật đản không nằm ở một sự kiện cách đây hơn hai ngàn năm, mà ở nơi sinh khởi của tánh giác ngay trong tâm mỗi người. Các Thiền sư Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam đều chỉ về một điểm: Phật sinh khi tâm sáng, Phật mất khi tâm mê. Do vậy, trong nhà Thiền, khi chúng ta mừng lễ hội Phật đản với thắp đèn tuần hành chỉ là mượn phương tiện để tiếp cận chúng sinh đời thường. Trong tận cùng, lễ Phật đản không chỉ đơn giản tưởng nhớ một đức Phật Thích Ca, mà còn để nhận ra ánh sáng tỉnh thức, xa lìa vọng tưởng trong tâm mỗi người.
Khi vọng tưởng lắng xuống, tâm trở nên trong trẻo, thì ngay khoảnh khắc ấy là Lâm Tỳ Ni hiện tiền. Phật đản do vậy là một tỉnh thức không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian. Suy nghĩ, cảm thọ, niệm khởi thì từng sát na sanh diệt; nhưng tánh chiếu sáng là vô sanh diệt, là xuyên suốt và bao trùm tất cả các sanh diệt trong tâm. Mỗi khi ta sống bằng chánh niệm, từ bi và trí tuệ, thì Phật lại sinh ra, và thế giới trở nên rộng mở, an lành. Nhưng không nên hiểu là có Phật sinh với Phật diệt, chỉ nên hiểu là mây tan thì trăng hiện; khi bụi lau sạch thì gương chiếu sáng.
Trong Thiền tông, chúng ta thường nghe câu “Phật tức tâm” — đó là khi chỉ thẳng rằng tánh giác vốn sẵn nơi mỗi người, không phải tìm ở bên ngoài. Tuệ Trung Thượng Sĩ có hai bài thơ, một bài nói Tâm sinh thì Phật sinh, và bài thứ nhì nói Tâm sinh thì sinh tử sinh. Tức là, hai chiều trái nghịch.
Trong bài thơ Khúc Ca Phật Tâm, Tuệ Trung Thượng Sĩ viết, theo bản dịch của Thầy Thanh Từ, trích:
Phật! Phật! Phật! không thể thấy!
Tâm! Tâm! Tâm! không thể nói!
Khi tâm sanh tức là Phật sanh
Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt…
Chỗ này nên phân biệt: đó chính là hiển lộ của tâm phân biệt, nên mới có Phật sinh và Phật diệt, nên mới có tâm sinh với tâm diệt. Cũng y hệt như ảnh trước gương, có khi ảnh hiện, có khi ảnh biến mất, nhưng tánh sánh của gương tâm vẫn chói sáng. Do vậy, ngay cả khi đang ngủ, chúng ta vẫn có thể bị tiếng động ngoài xa vọng tới đánh thức. Nếu nói khi ngủ, tâm diệt thì làm sao nghe. Tương tự, khi chúng ta nghe tiếng đàn trong nhà, vẫn nghe chen vào tiếng chim ngoài sân; không hề có chuyện tâm diệt, chỉ có chuyện trăng bị mây che, và chuyện gương sáng bị bụi mờ thôi.
Do vậy, sau khi nói “tâm sanh tức là Phật sanh” ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài Sống Chết Nhàn Mà Thôi, cũng bản dịch của Thây Thanh Từ, nói rằng “tâm sanh tức là sanh tử sanh”, trích như sau:
Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh
Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt
Sanh tử xưa nay vốn tánh không
Thân huyễn hóa này rồi cũng diệt.
Phiền não bồ-đề bỗng mất tiêu
Địa ngục thiên đường tự khô kiệt
Chảo dầu lò lửa chợt mát liền
Núi kiếm rừng đao chốc gãy hết.
Hễ ngộ nhận thì sẽ không hiểu nổi vì sao có lúc ngài nói tâm sanh là Phật sanh, và có lúc nói tâm sanh là sanh tử sanh. Hiểu được và sống được chỗ này mới tuyệt vời. Do vậy, chúng ta từng đọc thấy ngài Triệu Châu nói, “Tức tâm, tức Phật”; và có lúc nghe ngài nói, “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật.”
Khi người học bám chặt vào “tâm là Phật”, lập tức sinh ra một khái niệm mới để chấp. Rằng có cái gì gọi là tâm, gọi là Phật. Vì vậy, các Thiền sư lại nói “Không phải tâm, không phải Phật” để phá luôn cái chấp vi tế ấy. Lìa xa cái đối chiếu, cái so sánh về tâm, về Phật thì sẽ không có gì để nắm giữ nữa. Cả hai cách nói đều có ý dẫn người học trở về tánh biết không hình tướng, vượt ngoài mọi khái niệm. Khi không còn bám vào “tâm” hay “Phật”, thì tánh giác hiển lộ, và đó mới là chỗ Thiền muốn chỉ ra.
Tại sao phiền não, Bồ đề cùng sinh khởi trong tâm? Nghĩa là, trong phiền não chính là Bồ Đề? Phiền não và Bồ đề không khác nhau, và ý này nằm trong hình ảnh băng và nước, từ bài thơ Tọa Thiền Hòa Tán của Thiền sư Bạch Ẩn (Hakuin Ekaku), vị Tổ trung hưng tông Lâm Tế tại Nhật Bản.Triết lý cốt lõi của hình ảnh này là: Tất cả chúng sinh tự bản tánh là Phật, tương tự như băng tự trong bản tánh là nước; và ngoài nước thì không có băng, và ngoài chúng sinh không có Phật. Tương tự, chúng sinh (đang mê mờ) và Phật (đã giác ngộ) có cùng một bản tánh Phật thanh tịnh. Vì Phật tánh luôn hiện hữu sẵn trong chính tâm sinh diệt của mỗi người ngay tại thời điểm hiện tại.
Bây giờ, chúng ta dò lại Kinh điển, sẽ thấy trong Tăng Nhất A Hàm EA 26.9, bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng, viết về bốn pháp ấn: “Nay có bốn pháp mà Như Lai đã nói. Những gì là bốn? Tất cả các hành vô thường, đó gọi là pháp thứ nhất mà Như Lai đã nói. Tất cả các hành là khổ, đó gọi là pháp thứ hai mà Như Lai đã nói. Tất cả các hành vô ngã, đó gọi là pháp thứ ba mà Như Lai đã nói. Niết-bàn là vĩnh tịch, đó gọi là pháp thứ tư mà Như Lai đã nói.” (1)
Trong đó, pháp hữu vi là vô thường, khổ, và vô ngã. Trong khi đó, pháp vô vi là Niết Bàn. Vì là vô vi, nên Niết Bản là khi tham sân si vắng bặt, thì Niết Bàn hiển lộ, chứ không có nghĩa là Niết Bàn được tạo dựng. Vì hễ cái gì có sinh thì có diệt, hữu vi là do duyên, nên có sinh diệt. Nết Bàn là vô vi, xa lìa ngôn thuyết tư lường, không do duyên tạo dựng ra, y hệt như tánh sáng của gương, hễ bụi rơi là chiếu sáng, cũng như trăng sáng hiện ra khi mây tan.
Trong Thiền Việt Nam, có ghi lại 43 Công Án của ngài Trần Thái Tông, trong đó có 2 công án đầu tiên liên hệ tới ý nghĩa Phật Đản. Nơi đây, chúng ta trích lại, theo bản dịch của Thầy Nhất Hạnh:
“—- Công án thứ nhất. Cử: Thế Tôn chưa rời cung Đâu Suất đã giáng sinh vương cung, chưa ra khỏi mẫu thai đã hoàn tất sự nghiệp cứu độ.
Niêm: Gươm kích chưa vung, tướng quân đã để lộ tung tích.
Tụng:
Đứa bé hình hài chưa có ấy
Nửa đêm đưa dắt người đồng hương
Rong chơi khắp biển trời lồng lộng
Không cần phao nổi, không đò giang.
—- Công án thứ hai. Cử: Thế Tôn khi sơ sinh, một tay chỉ trời một tay chỉ đất: “trên trời dưới đất, duy ta độc tôn”.
Niêm: Một đám bạch vân qua cửa động
Bao nhiêu chim chóc lạc đường về
Tụng:
Vì muốn giáng sinh cung Tịnh Phạn
Độ sinh nên phải lộ hành tung
Bảy bước chân đi, trời đất chỉ
Biết bao Phật tử táng gia phong.” (2)
Chỗ này, chúng ta nên ghi nhận: người đời thường (và các học giả) thường chú ý tới công án, vì chuyện này thường giựt gân và gợi nhiều suy nghĩ phân biệt. Thực tế, trong các chùa Thiền Tông truyền thống, công án chỉ là một phần, vì tông chỉ thường được các Thiền sư dạy học trò trong các kinh giảng kinh, thuyết pháp, ăn cơm, uống trà, cuốc đất và mọi sinh hoạt trong chùa. Dần dần, như sương ngấm vào từ từ, học trò sẽ tới một lúc ngộ được ý chỉ, biết cách an tâm. Ngộ được tông chỉ, sẽ hiểu được nhiều công án; tuy nhiên, thường khi mở miệng là tự biết sai liền, vì kinh nghiệm trực chỉ không gói được trọn vẹn vào chữ.
Trong công án thứ nhất của Trần Thái Tông, hàm ý nói rằng Phật Tánh đã nằm sẵn, trước khi thân ngũ uẩn của Đức Phật Thích ca ra đời. Tương tự, trong công án thứ nhì, khi Đức Phật hài nhi nói trên trời dưới đất, duy ta độc tôn thì chỉ là ẩn dụ, không nói cái ta của thân ngũ uẩn, chỉ nói cái trí tuệ có thể đưa tới giải thoát vốn đã không hề sinh, và không hề diệt. Khi ngộ được là biết cách an tâm để tới chỗ giải thoát.
Trong Kinh Ud 8.3, Đức Phật dạy rằng vì có pháp vô vi (unconditioned), vì có pháp chưa hề sinh ra (unborn), nên chúng sinh ngụp lặn trong pháp hữu vi (conditioned), trong pháp sinh diệt (born) mới có thể giải thoát, theo bản dịch này:
“Này các Tỳ-kheo, có một cái không sinh, không thành, không tạo tác, không hữu vi. Nếu không có cái không sinh, không thành, không tạo tác, không hữu vi ấy, thì các ông sẽ không thể biết được lối thoát khỏi cái đã sinh, đã thành, đã tạo tác, đã hữu vi này. Nhưng chính vì có cái không sinh, không thành, không tạo tác, không hữu vi ấy, nên các ông mới biết được lối thoát khỏi cái đã sinh, đã thành, đã tạo tác, đã hữu vi.” (3)
Đó cũng là ý nghĩa trong băng có nước, trong phiền não có Niết Bàn. Đây cũng là chỗ để các luận sư đời trước tách ra thành Nam Tông và Bắc Tông. Vì Nam Tông nói không có Phật Tánh, một chữ mà Đức Phật không dùng (tuy ngài dùng chữ “vô vi” cũng tương đương, và là pháp ấn thứ tư). Bắc Tông nói không thể mài gạch thành gương, là ý như thế, không có ý quăng bỏ kinh điển khác.
Tới đây, chúng ta nên ghi nhận rằng nhiều Thiền sư không muốn dùng các hình ảnh siêu nhiên (vì như thế, sẽ cho rằng có cái gì ngoài thân ngũ uẩn của mình). Trong đó có ngài Vân Môn. Truyện này được ghi trong sách Pháp Nhãn Ngữ Lục, bản dịch của Dương Đình Hỷ, trích như sau:
“59- Vân Môn nói: Lúc Thế tôn đản sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, đi 7 bước, ngoảnh nhìn bốn phía rồi nói: Trên trời, dưới trời chỉ có ta là hơn cả. Lúc đó nếu tôi thấy thì đã đánh chết cho chó ăn thì thiên hạ đã thái bình. Pháp Nhãn nói: – Vân Môn khí nghệ quá cao, chẳng lý gì đến Phật pháp.” (4)
Trong sách “The Warrior Koans: Zen Writings of the Ishin-shu” của Trevor Leggett đã ghi về nhiều công án liên hệ tới Phật Đản Sanh trong các chùa Thiền Tông Nhật Bản.
Nơi đây, chúng ta đọc công án 40: ‘The World-Honoured One has been born!’ (‘Đấng Thế Tôn đã đản sinh!’), trích dịch từ bản Anh văn:
“Uesugi Masayoshi bắt đầu tu tập tại thiền viện Meigetsuin, và vị thiền sư đã giao cho ông công án về sự đản sinh của Đức Phật. Sau hơn một năm một chút, Masayoshi đạt được sự khai ngộ trong tuần lễ tu tập Rohatsu, và ông hô vang: ‘Đức Thế Tôn đã đản sinh!’ Sau đó, ông bước vài bước về phía trước và cất tiếng hô lớn: ‘Trên trời dưới đất, duy ngã độc tôn!’
Vị thiền sư nói: ‘Theo truyền thống kể lại rằng Đấng Thế Tôn đã lưu lại mười hai tháng trong lòng mẹ, Ngài đản sinh từ hông phải của mẫu thân, Ngài bước bảy bước rồi cất tiếng hét lớn. Còn ngươi, ngươi đã chui ra bằng cách nào? Hãy nói đi, nói đi! Nếu ngươi không thể nói, thì kẻ đản sinh kia không phải là Phật, mà chỉ là một con hồ ly tinh đang hiện hình giả tạo mà thôi.’
Masayoshi đáp: ‘Con đã bước vào ngôi nhà của mình và hòa nhập cùng nó [nhà]; Con đã thuận theo nghiệp duyên và hòa nhập cùng nó [nghiệp]; Con đã đạp lên đỉnh đầu của Đức Tỳ Lô Giá Na.’
Vị thiền sư hỏi: ‘Cái sự kiện đạp lên ấy là gì?’
Masayoshi đáp: ‘Đấng Chí Tôn không nằm trong sáu bước đầu tiên.’ (5)
Ý nghĩa của Đức Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) là gì? Bạn có thể gọi đó là biểu tượng của Pháp thân – bản thể tuyệt đối, thanh tịnh, vô tướng của chư Phật. Danh hiệu Vairocana nghĩa là quang minh biến chiếu, ánh sáng trí tuệ chiếu khắp pháp giới. Ngài tượng trưng cho trí tuệ Pháp Giới Thể Tánh Trí. Trong Đại thừa, đặc biệt là hệ thống Kinh Hoa Nghiêm, ngài được xem là bản thể của toàn vũ trụ, là ánh sáng trí tuệ từ đó mọi pháp hiển lộ. Do vậy, Tỳ Lô Giá Na không phải một vị Phật lịch sử, mà là Pháp thân vô tướng, nền tảng của mọi hiện hữu. Trong Thiền tông, ý nghĩa này tương ứng với tánh giác vốn sẵn, vượt ngoài hình tướng và khái niệm. Nếu không có tánh giác, thì chúng ta chỉ là gạch đá, cát sỏi.
Cũng trong sách vừa dẫn, có công án 41 (The flower hall on Buddha’s birthday), cũng về ngày Phật Đản. Dịch như sau:
“Số 41. Chánh điện hoa trong ngày Phật đản
Ni sư Mydan thuộc tự viện Tokeiji đã tu tập Thiền thông qua các buổi vấn đáp cùng Thiền sư Tanei — vị trụ trì đời thứ 74 của tự viện Enkakuji. Thiền sư Tanei đã giao cho Ni sư những bài thơ do Ni sư Yodo (vị trụ trì đời thứ 5 của Tokeiji và vốn là một nàng công chúa) cùng các thị giả của Ni sư sáng tác làm công án tu tập. Những bài thơ này xoay quanh chủ đề hái và cắm hoa trong ngày đản sinh của Đức Phật. Bài thơ của Ni sư Yodo như sau:
Hãy trang hoàng tâm của người đang nhìn [quan sát]
Vì Đức Phật nơi chánh điện trang nghiêm hoa
là nơi tâm đó, chẳng ở đâu xa.” (6)
Trong sách vừa dẫn, cũng có công án 82 “Ngày sinh của Đức Phật” (The Buddha’s Birthday – Koan 82). Tất cả các Thiền sư khi dùng công án đều muốn kéo học nhân về cái bây giờ và ở đây.
Thực ra, khi bạn đọc kỹ, sẽ thấy Đức Phật nói rằng sâu thẳm trong dục (desire) tận cùng là giải thoát. Tức là, tư tưởng Đại Thừa đã hàm ẩn nơi đây: phiền não là Niết Bàn. Trong Phật giáo Việt Nam thường nói rằng trong bùn có sen là như thế. Ngoài bùn thì không thể có sen.
Trong Kinh AN 10.58, bản dịch của Thầy Minh Châu viết về ý đó, tận cùng trong dục đã hàm ẩn giải thoát, nghĩa là trong pháp hữu vi đã có pháp vô vi, trích:
“Tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây. Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập. Tất cả pháp lấy Niết-bản làm cứu cánh.” (7)
Nên đối chiếu, bản Anh dịch của Thầy Bodhi, trích:
“‘Friends, (1) all things are rooted in desire. (2) They come into being through attention. (3) They originate from contact. (4) They converge upon feeling. (5) They are headed by concentration. (6) Mindfulness exercises authority over them. (7) Wisdom is their supervisor. (8) Liberation is their core. (9) They culminate in the deathless. (10) Their consummation is nibbāna.’”(7)
Bạn cũng có thể đọc bản Anh dịch của Thầy Sujato, cũng y hệt như 2 bản dịch trên. Có thể ghi theo công thức đời nay là: Với định, niệm, tuệ thì sẽ thấu suốt trong cốt lõi dục là giải thoát, và tận cùng sẽ là bất từ và Niết Bàn. Đừng tìm đâu xa: phiền não là Niết Bàn là như thế. Có nghĩa là Đức Phật đã có sẵn trong các pháp, chưa từng rời chúng ta.
Trong ánh sáng Thiền tông, Phật Đản không thuần túy là kỷ niệm một bậc Thầy của ba cõi xuất hiện giữa đời, mà là lời nhắc rằng tánh giác có thể sinh khởi ngay trong từng hơi thở của mỗi người. Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Tự tánh mê tức chúng sinh, tự tánh giác tức Phật.” (Pháp Bảo Đàn Kinh).
Tương tự, ngài Lâm Tế cũng nói về một Vô Vị Chân Nhân: “Trong thân năm uẩn này có một người chân thật, không theo thứ trước, không theo thứ sau.” (Lâm Tế Lục). Tương tự, ngài Triệu Châu, khi được hỏi về Phật, chỉ đáp: “Tâm bình thường là đạo.” (Triệu Châu Ngữ Lục).
Vì vậy, ý nghĩa sâu xa nhất của Phật Đản là trở về sống với tâm bình thường, lặng lẽ, tỉnh thức, trong sáng, không vướng mắc. Khi tâm ấy hiển lộ, thì ngay nơi đây, ngay bây giờ, Lâm Tỳ Ni lại hiển lộ và Đức Phật lại sinh vào đời. Không ở đâu xa.
Kinh Bahiya nói rất minh bạch, ngay nơi thấy chỉ là thấy và ngay nơi nghe chỉ là nghe, lúc đó là tâm xa lìa ba cõi, lúc đó là tâm Niết Bàn, lúc đó là không còn thời gian của quá khứ, hiện tại hay vị lai. Nghĩa là thấy nghe cứ để mặc thấy nghe, còn thêm cái gì, thì là hỏng, vì thêm lúc đó là trên tuyết lại phả thêm sương, trên đầu lại chắp thêm đầu. Ngưng ngay nơi không chỗ trụ đó, sẽ thấy Đức Phật ra đời.
GHI CHÚ:
(1) Kinh EA 26.9: https://suttacentral.net/ea26.9/vi/tue_sy-thang
(2) Công án Trần Thái Tông: https://langmai.org/tang-kinh-cac/tai-lieu/43-cong-an-cua-tran-thai-tong/
(3) Kinh Ud 8.3: https://suttacentral.net/ud8.3/en/anandajoti
(4) Pháp Nhãn Ngữ Lục: https://thuvienhoasen.org/images/file/zCuBmJ1G0QgQABUG/phap-nhan-ngu-luc.pdf
(5) Trevor Leggett. Công án 40: https://tlayt.org/the-world-honoured-one-has-been-born-koan-40/
(6) Trevor Leggett. Công án 41. https://tlayt.org/the-flower-hall-on-buddhas-birthday-koan-41/
(7) Kinh AN 10.58, bản Thầy Minh Châu: https://suttacentral.net/an10.58/vi/minh_chau
Bản Thầy Bodhi: https://suttacentral.net/an10.58/en/bodhi
