TƯ TƯỞNG DUY THỨC TRONG NHẬP LĂNG-GIÀ KINH

TƯ TƯỞNG DUY THỨC TRONG NHẬP LĂNG-GIÀ KINH

Trong tác phẩm “Tiểu luận Bồ-đề-đạt-ma”, Phạm Công Thiện viết: “Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) là một con người đặc biệt trong lịch sử tôn giáo nhân loại. Người có một đời sống khác thường, mang một tâm hồn mãnh liệt hiên ngang, xem công hầu khanh tướng như cỏ rác, đi trên thị phi tầm thường, vượt ra ngoài những giới hạn của đời sống công lệ, phá hủy chủ nghĩa công thức đến tận gốc rễ và nuôi trong lòng nung nấu một niềm kiêu dũng xót xa của một tâm hồn đau đớn trước sự đi xuống của con người… Bồ-đề-đạt-ma đi qua xứ lạ để rao truyền đạo lý tinh túy của đấng Giác ngộ; nhưng tiếng nói của Người chỉ là tiếng nói cô liêu trong sa mạc loài người … Người đương thời không thể hiểu nổi tiếng nói cao siêu của Bồ-đề-đạt-ma; vì thế, Người phải đau lòng đi vào nỗi niềm cô đơn vô hạn của kẻ thiên tài.”

Nhắc đến Bồ-đề-đạt-ma đến đất Trung Hoa truyền giáo, không thể không nói đến bộ kinh Lăng-già. Theo Thiền tông sử (景德传灯录), ngài đã truyền bộ kinh này cho Nhị tổ Huệ Khả, dặn rằng: Đây là cửa ngõ thiết yếu dẫn đến tâm Như Lai, và giúp tất cả chúng sinh hướng đến giác ngộ. Do đó kinh Lăng-già trở thành nguồn văn kiện quan trọng đối với các hành giả Thiền tông dùng nó tu tập Như Lai Thiền, để nhận ra bản chất chân thật của mình trong suốt một chiều dài lịch sử. Nhưng nội dung chính của bản kinh lại trình bày một triết lý duy tâm của trường phái Du-già hành (Yogacara). Theo kinh Lăng-già (Laṅkāvatāra Sūtra): “Tất cả mọi thứ đều do thức biến hiện”, tức cái được thấy như một vật bên ngoài không gì khác ngoài tâm của chính mình (svacitta-drsya-mātram).

Theo Asanga Tilakaratne tin rằng kinh Lăng-già được biên soạn vào khoảng năm 350 – 400 Tây lịch. Christian Lindtner lại lập luận, kinh Lăng-già có ảnh hưởng đến các tác phẩm của Long Thọ (Nagarjuna) và Thánh Thiên (Aryadeva) (thế kỷ thứ 3), cho nên sự ra đời của nó có thể sớm hơn. Riêng Suzuki (người đã dịch kinh Lăng-già sang tiếng Anh và xuất bản năm 1932) và một số học giả cho rằng, chương mở đầu cùng hai chương cuối là phần được thêm vào sau này, ước đoán việc bổ sung này diễn ra trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 5 Tây lịch. Phần cuối kinh Lăng-già (楞伽阿跋多羅寶經 卷4, T16n670, p. 514a26) có đoạn kệ:

“…Tắc vô tam tịnh nhục,

Bỉ phi vô nhân hữu,

Thị cố bất ưng thực…”

(則無三淨肉

彼非無因有

是故不應食).

Trong Luật tạng ghi chép cũng như một số truyền thống Phật giáo bộ phái, áp dụng và cho phép tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni được phép ăn ba loại thịt không thấy, không nghe, không nghi con vật đó bị giết vì mình. Nhưng bài kệ trên, bác bỏ nguyên tắc này, lập luận rằng nếu không có nhu cầu của người ăn thì sẽ không cần có thịt để bán, hay cúng dường (tắc vô tam tịnh nhục 則無三淨肉). Kinh Lăng-già đưa ra luận điểm: Thịt không phải tự nhiên mà có (vô nhân hữu 無因有); nó có vì có nhu cầu từ người dùng. Do đó, việc ăn thịt, dù là “tịnh nhục” vẫn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc giết hại. Vì lẽ đó, không nên ăn (Thị cố bất ưng thực 是故不應食). Suzuki cho rằng chương nói về việc cấm ăn thịt là phần mang tính giới luật, đạo đức, có thể được bổ sung vào sau này ở Ấn Độ hoặc Trung Quốc, để củng cố lập trường cấm ăn thịt trong Phật giáo Đại thừa.

Chúng ta hãy bỏ qua hình thức cấu trúc biên soạn, mà hãy nhìn vào trọng tâm nội dung chính của giáo điển, chúng ta sẽ thấy kinh Lăng-già là một trong những kinh điển Phật giáo Đại thừa quan trọng của Ấn Độ vào thời trung kỳ. Toàn bộ kinh điển trình bày giáo lý về Năm pháp (danh, tướng, vọng tưởng v.v.), Ba tự tính (biến kế, y tha, viên thành thật tính), Tám thức: Như Lai Tạng, mạt-na v.v… Như Lai Tạng chính là thức thứ 8 đang bị phiền não che lấp. Nói chung triết lý của kinh chủ yếu tập trung vào giáo lý Duy thức, A-lại-da và Chân Như (Tathatā). Và tác giả biên soạn nói nhiều đến Như Lai Tạng mục đích không để ngoại giáo nhầm lẫn nó là một loại tự ngã. Trong văn kinh dẫn như sau:

“Đại Bồ-tát Đại Tuệ (大慧菩薩摩訶薩, Mahāmati) hỏi đức Phật, Như Lai Tạng (如來藏) mà Thế Tôn nêu trong các kinh điển có đồng với tự ngã mà các (triết gia) ngoại đạo thường tuyên thuyết? Đức Phật giải thích: Như Lai Tạng mà Ta nói, không đồng với cái ngã của ngoại đạo tuyên thuyết. Như Lai Tạng trong ý nghĩa đây là cái Không (空),… không sinh không diệt… tự tính Niết-bàn (自性涅槃) v.v…” (Lăng-già a-bạt-đa-la bảo kinh, Laṅkāvatāra-sūtra, 楞伽阿跋多羅寶經 2, T16n670, p. 489a25).

Tâm Nhãn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận