KÝ ỨC VỀ MỘT NGÀY… CÒN CÁI GÌ ĐÓ ĐỂ TỰ HÀO
Nha Trang cuối năm, trời se lạnh. Cái lạnh nhẹ của miền biển, cái lạnh của thiên nhiên đất trời, có đó mất đó, nhưng cái lạnh trong lòng người thì rất lâu.
Chiếc ghế đá sau hiên tịnh thất, nơi thầy từng ngồi đọc sách, từng ngồi mỉm cười tiếp bạn bè thân hữu, giờ trống không. Gió lùa qua một khoảng trống mang theo một nỗi buồn khó gọi tên. Những ai từng ngồi đó với thầy, nhìn chiếc ghế sẽ thấy chính mình, nó là nỗi mất mát của mình. Từ đây, tịnh thất vẫn yên bình, sân chùa vẫn rợp bóng cây, tiếng chuông chùa vẫn vang lên mỗi sớm… chỉ có thầy là không còn nữa. Người “giữ lửa” cuối cùng của Phật học viện Trung Phần Hải Đức, Nha Trang.
Ngày thầy ra đi, cái lạnh tiết trời rất ít và nhẹ, mà chỉ cái lạnh làm cho người đến tiễn biệt thấm đẫm chính là cái lạnh của sự hụt hẫng, của nỗi trống vắng khi một người đáng kính rời xa ta. Tôi không thể đến tiễn thầy một đoạn đường nhưng vẫn hiểu cái lạnh đó, nó sẽ ở lại với tôi một thời gian, cũng vì một phần ký ức, và nhiều kỷ niệm giữa tôi với thầy.
Lục lại kỷ niệm xưa, năm 1999, Hội nhà văn Nha Trang tổ chức lễ tưởng nhớ Ơn nghĩa sinh thành cùng ra mắt tác phẩm “Bông hồng cho cha” (tái bản) của nhà văn Võ Hồng, tại nhà Văn hóa Tân Tân, đường Thống Nhất (tên cũ Độc Lập), Nha Trang. Hôm ấy, đại diện cho tinh hoa văn nghệ Việt Nam như nhà văn Giang Nam, ông nổi tiếng với bài thơ “Quê hương” da diết: “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường…”, nhà văn Võ Hồng con người đôn hậu, anh Quách Giao mang cốt cách của tiền nhân, của cha mình là Quách Tấn – nhà thơ chuyên về Đường luật v.v., trong đó có thầy Phước An. Hội nhà văn mời thầy, thầy đi một mình ngại nên “rủ” tôi và Đạo Luận cùng đi cho vui.
Người tri thức khoác áo nâu sồng, an nhiên giữa núi rừng tịch mịch, quen với nếp sống yên tĩnh trong chùa, nay đứng giữa giao thoa đạo với đời, xung quanh lại là những bậc đại thụ làng văn; khi họ mời thầy lên phát biểu, thầy hơi lúng túng bối rối trong giây phút đấu. Nhưng thầy cũng chuẩn bị sẵn một bài viết tay, đọc giọng dõng dạc. Tôi không nhớ chi tiết nội dung, song lời văn thầy viết rất hay, nó hay như những câu từ trong các tác phẩm của thầy để lại cho nhân thế. Sau buổi gặp mặt thân mật, ra về, tôi thấy ánh mắt thầy sáng lên niềm vui. Vui không phải vì được vinh hạnh tham dự, hay được phát biểu, mà vui vì thầy thấy giá trị của lòng hiếu được tôn vinh, lễ Vu lan được thế gian trân trọng.
Một chút tự hào còn mãi trong tôi. Tự hào được sống gần thầy, cạnh chiền núi “ngọc bức hàm hoàn”, chung lý tưởng, làm bạn vong niên, tự hào về thầy, thầy đã sống một cuộc đời đẹp, đẹp trong từng lời nói, từng trang viết của thầy. Thầy viết không phô trương, viết để tô điểm đời. Tự hào Phật giáo Việt Nam có thầy. Vì thế mà ngày thầy đi, Tăng, Ni, Phật tử, nhà báo, nhạc sĩ, giới trí thức, họ đến không chỉ tiễn biệt một người thầy khả kính, một vị Tôn trưởng mà còn tiễn đưa một tâm hồn lớn và nghiêng mình trước một nhân cách.
Với tôi, thầy ra đi để lại một khoảng trời rất riêng. Một khoảng trời kỷ niệm không bao giờ cũ.
“Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu”
(孤帆遠影碧空盡,
惟見長江天際流)
“Nước sông trắng, mây vàng tuôn,
Kẻ đi người ở, cơn buồn bên sông”
Tâm Nhãn
12.2.2026
