Trường trai trong lịch sử

XOAY QUANH CHUYỆN CHAY, MẶN LIÊN HỆ ĐẾN ĐOẠN TỬU NHỤC VĂN

Có một đại sư cũng là bạn đồng tu của tôi, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ Phật học ở phương trời Tây, trở về nước, tiếp tục gắn kết với sự nghiệp đứng lớp giảng dạy dưới mái trường Phật học tỉnh nhà, cũng như tổ chức các khóa tu tại bổn tự. Gần đây, có một việc làm đại sư ưu tư là chuyện chay, mặn trong Phật giáo giữa hai nền văn hiến và tông phái Phật giáo Bắc, Nam. Cho đến nay, cả hai hệ vẫn giữ lập trường quan điểm theo truyền thống mỗi bên, từ cách ăn uống cho đến sinh hoạt tu tập v.v… hoàn toàn khác biệt và có chút đối nghịch nhau.

Một bên là Phật giáo Nam tông, y cứ vào nếp sống đức Phật được ký tải trong các tài liệu cổ, nhất là Luật tạng, chép rằng Phật cho phép ăn tam tịnh nhục – ba loại thịt không thấy, không nghe, không nghi. Một bên là Phật giáo Bắc tông, dựa trên nền tảng giáo lý kinh điển Đại thừa còn bảo lưu, áp dụng đời sống trường trai.

Vấn đề “nhức nhối” này, nếu chúng ta đi tắt ngang ngay giai đoạn lịch sử quá khứ tại Trung Hoa thì sẽ tường tận. Phật giáo Bắc tông chọn nếp sống trường trai phải kể từ thời Lương Vũ đế. Lương Vũ đế (梁武帝; 464 – 549), tên húy là Tiêu Diễn (蕭衍), tự là Thúc Đạt (叔達), là vị Hoàng đế khai quốc của triều Lương thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Ông được xưng tụng là Bồ-tát hoàng đế (菩薩皇帝), lịch sử ghi lại ông xuất gia bốn lần tại chùa Đồng Thái tự (同泰寺). Không rõ ông mộ đạo từ lúc nào, chỉ biết chính sách điều hành quốc gia ảnh hưởng Phật giáo rõ rệt nhất từ năm 517. Như cấm hiến tế động vật, cúng chay các vị tiên tổ của hoàng thất, thay vì cúng bằng các loại động vật như dê, lợn, bò theo truyền thống, bỏ việc hành hình, v.v.

Lịch sử dẫn dắt, bắt đầu nguyên nhân do đại thần Quách Tổ Thâm (郭祖深) dâng sớ khuyên can việc cấm sát sinh trong tế tự tông miếu, đặc biệt là bãi bỏ việc dùng súc vật làm tế phẩm. Từ lời can gián này, Lương Vũ đế mở rộng thành chủ trương cấm sát sinh, cấm ăn thịt, khuyến khích ăn chay, từ đây nhà vua mới soạn “Đoạn tửu nhục văn 斷酒肉文” (Bài văn về việc đoạn tuyệt rượu thịt). Bản sắc này được ban bố vào năm Thiên Giám thứ 17, tức năm 518, thời Nam triều. Tác phẩm ra đời với mục đích dùng vương quyền lệnh cấm tăng, ni tuyệt đối kiêng rượu thịt, bắt buộc ăn chay. Đoạn tửu nhục văn, hiện còn bảo lưu trong Quảng hoằng minh tập (廣弘明集) quyển 26, tạng Đại chánh tập 52, số 2103, trang 294b16.

Bài văn này chủ yếu trích dẫn và chứng minh dựa trên các kinh điển Đại thừa như kinh Đại bát-niết-bàn (大般涅槃经), kinh Lăng-già (楞伽经), kinh Ương-quật-ma-la (央掘魔罗经) v.v. Luận cứ cốt lõi của Lương Vũ đế như: liệt kê 9 hình thức nếu Tăng nhân không đoạn tuyệt rượu thịt sẽ giống ngoại đạo và không bằng người tại gia; hoặc nếu ăn thịt sẽ dẫn đến 46 loại chướng ngại trên con đường tu hành, đoạt mất hạt giống từ bi v.v. Cuối bài văn, ông tự mình làm gương còn lập lời thề nếu vi phạm chịu khổ hình nơi địa ngục, đồng thời tuyên bố rõ sẽ dùng luật pháp của triều đình trị tội những tăng, ni nào dám vi phạm sắc lệnh.

Để đạt được sự đồng thuận trong Tăng chúng, Lương Vũ đế đã mời và tập hợp 198 vị tăng, ni, tổ chức một cuộc hội thảo ngay tại cung đình, nhằm thảo luận về tranh nghị xoay quanh việc: “Trong Luật không có điều khoản cấm ăn thịt cũng như pháp sám hối do ăn thịt”. Tại cuộc hội thảo, Lương Vũ đế là người học Phật cực kỳ uyên thâm, đã đặt ra 50 câu hỏi, do 3 vị luật sư: Pháp Vân (法雲), Tăng Mân (僧旻), Tuệ Cung (慧恭) thông hiểu giới luật đứng ra giải đáp, nhằm làm sáng tỏ và biện bác các kiến giải sai lầm. Cuối cùng, theo hướng giải thích là giới luật theo lộ trình tiến lên, cho rằng đoạn thịt là một yêu cầu dành cho bậc cao tăng tu học cao dần.

Nhiều học giả Trung Hoa cho rằng Lương Vũ đế đã mượn phương thức của Phật giáo để báo đáp ân tình của tổ tiên, gửi gắm tư tưởng hiếu đạo; về mặt bản chất, đây là việc dùng hình thức Phật giáo để phục vụ cho nội dung hiếu đạo của Nho gia.

Kể từ năm 517 sau Tây lịch, Lương Vũ đế ban bố lệnh cấm rượu thịt dưới hình thức sắc lệnh hành chính quốc gia, và Đoạn tửu nhục văn được hậu thế nhìn nhận là văn bản then chốt thiết lập nên chế độ ăn chay của Phật giáo Hán truyền. Động thái này được xem là điểm khởi đầu cho việc hình thành phong khí ăn chay của tăng chúng Phật giáo Bắc tông, trở thành một truyền thống và nét đặc trưng quan trọng của hệ phái này.

Phật giáo Bắc tông tại Việt Nam thì sao? Khoảng năm 195 sau Tây lịch, thời Mâu Tử khi viết Lý hoặc luận, mô tả tình hình Phật giáo tại Giao Châu lúc bấy giờ: “Nay sa-môn mê thích rượu ngon, hoặc nuôi vợ con,…” Phải chăng thời Mâu Tử, tăng nhân Việt Nam vẫn ăn thịt theo truyền thống trong Luật tạng. Có thể từ Lương Vũ đế hoặc sau đó, Phật giáo Bắc tông Việt Nam mới chính thức ăn chay…

Như vậy chuyện ăn chay của Phật giáo Bắc tông tại Trung Quốc cũng như Việt Nam ngày nay có phải bắt nguồn từ Đoạn tửu nhục văn của Lương Vũ đế? Khó có câu trả lời chính xác, bởi vì trong bản Lăng-già-a-bạt-đa-la bảo kinh (Laṅkāvatāra sūtra, 楞伽阿跋多羅寶經) do Cầu-na-bạt-đà là (求那跋陀羅, Guṇabhadra) dịch năm 443, ở quyển 4 (T16n670, p. 514a26) có đoạn kệ:

“…Tắc vô tam tịnh nhục,

Bỉ phi vô nhân hữu,

Thị cố bất ưng thực…”

(則無三淨肉

彼非無因有

是故不應食).

Đoạn kệ này lập luận rằng nếu không có nhu cầu của người ăn thì sẽ không cần có thịt để bán, hay cúng dường (tắc vô tam tịnh nhục 則無三淨肉). Và thịt không phải tự nhiên mà có (vô nhân hữu 無因有); nó có vì có nhu cầu từ người dùng. Do đó, việc ăn thịt, dù là “tịnh nhục” vẫn là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến việc giết hại. Vì lẽ đó, không nên ăn (Thị cố bất ưng thực 是故不應食).

Trong khi đó, bản Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經 10 quyển) của Bồ-đề-lưu-chi (菩提流支, Bodhiruci) dịch thời Bắc ngụy năm 513, và Đại thừa nhập Lăng-già kinh (大乘入楞伽經 7 quyển), Thật-xoa-nan-đà (實叉難陀, Śikṣānanda) dịch thời Đường (700–704), hai bản dịch này không có đoạn kệ kia.

Sự ra đời bản Lăng-già-a-bạt-đa-la bảo kinh, theo Asanga Tilakaratne suy đoán khoảng năm 350 – 400 Tây lịch. Christian Lindtner lại cho rằng nó ảnh hưởng đến các tác phẩm của Long Thọ (Nagarjuna) và Thánh Thiên (Aryadeva) (thế kỷ thứ 3), cho nên sự ra đời của nó có thể sớm hơn. Còn Suzuki (người đã dịch kinh Lăng-già sang tiếng Anh và xuất bản năm 1932) và một số học giả khác lại nói, chương mở đầu cùng hai chương cuối là phần được thêm vào sau này, có thể việc bổ sung này diễn ra trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 5 Tây lịch. Chương nói về việc cấm ăn thịt là phần mang tính giới luật, đạo đức, có thể được bổ sung vào sau này ở Ấn Độ hoặc Trung Quốc, để củng cố lập trường cấm ăn thịt trong Phật giáo Đại thừa.

Vậy đến đây, chúng ta có thể đưa ra giả thuyết kết luận thành hai hướng: Thứ nhất, Phật giáo Bắc tông ăn chay kể từ thời Lương Vũ đế biên soạn “Đoạn tửu nhục văn”. Thứ hai, Lương Vũ đế kế thừa truyền thống ăn chay theo Phật giáo Đại thừa phát triển trước đó tại Ấn Độ (sau thời Phật), khoảng thế kỷ thứ 3 Tây lịch, rồi sắc lệnh cho tăng ni kiêng thịt.

Tâm Nhãn

Tài liệu tham chiếu:

Đại chánh tân tu đại tạng kinh.

Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, 2003, p. 310.

https://baike.baidu.com/斷酒肉文.

素食文化:梁武帝《断酒肉文》始末 秉承大乘惠佛教百世 (凤凰网华人佛教).

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất