TUỆ SỸ – “ĐẲNG LƯU CHÁNH PHÁP”, CON NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG

TUỆ SỸ – “ĐẲNG LƯU CHÁNH PHÁP”, CON NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG

TỰ NGÔN

Trong Nhiếp đại thừa luận thích[1]giảng rằng: “Giáo pháp, như kinh điển v.v…, chảy ra từ nguồn pháp giới tối thanh tịnh, gọi là đẳng lưu của pháp giới tối thanh tịnh. Do việc lắng nghe một cách đúng đắn (không điên đảo) các kinh điển v.v… như thế nên gọi là ‘chánh văn’ (nghe đúng). Huân tập phát khởi do sự nghe trực tiếp được gọi là sự huân tập (do nghe). Hoặc chính việc nghe đó đã là huân tập rồi, thế nên gọi là ‘chánh văn huân tập’. Chính cái được huân tập này tồn tại trong thức A-lại-da làm nhân phát khởi tâm xuất thế gian (vô lậu).”

Có những cuộc gặp gỡ trong đời không chỉ là duyên, mà là định mệnh của sự tiếp nối. Suốt nhiều năm dài, tôi may mắn được bước đi dưới bóng mát của một bậc thầy lỗi lạc, một người uyên thâm kinh, luật, luận và cao viễn cả kiến thức thế học. Tôi kiên trì nhặt nhạnh lời thầy giảng dạy suốt hành trình bên thầy, pháp âm thầy truyền trao từ sở duyên chân như, không phải do chủng tử tích tập của tập khí, một dòng chảy của bậc thầy giác ngộ. Dòng chảy Chánh pháp này trong Thành duy thức luận[2] gọi là “Đẳng lưu chánh pháp” (等流正法, Skt. niṣyanda-dharma). Hy vọng “dòng chảy tối thanh tịnh này” ghi chép thành văn tự sẽ giúp người học, người đọc thấm nhuần vào “cánh đồng tàng thức” của mỗi cá nhân, một ngày không xa điều kiện đủ sẽ nảy mầm làm nhân phát khởi cho tâm xuất thế vô lậu.

Sau cuộc lữ “Thiên lý độc hành” năm 2011, bắt đầu từ năm 2012 đến 2017, thầy luôn về Nha Trang an cư. Năm 2012, 2014, 2016, thầy an cư tại chùa Linh Sơn, Vạn Giã, Nha Trang. Năm 2013, 2015, 2017, thầy an cư ở suối Thạch khê, hòn Cộ Ghe, Diên Lâm, Diên Khánh (Nha Trang). Hai địa điểm này là nơi tôi ghi chép lời thầy dạy nhiều nhất. Ngoài ra, còn một số trú xứ như Thị ngạn am (Bảo Lộc), Linh Sơn Ni tự (Nha Trang), tịnh thất thầy Lê Mạnh Thát, thư quán Hương Tích (cũ, đường Nguyễn Thượng Hiền, Sài Gòn), những chỗ này thầy trò trà đạo, giáo pháp cũng được ban bố. Cuộc đời thầy là một bài kinh dài không hồi kết, ngay cả lúc đau yếu, nhập viện điều trị, trên giường bệnh thầy vẫn giảng dạy nếu tôi hỏi đạo.

Từ khi thầy viên tịch, để lại một khoảng trống lớn trong lòng tôi. Nhưng “dòng chảy” tư tưởng của thầy vẫn cuộn sóng trong tàng thức tôi. Thầy đã cho tôi chất liệu của sự sống đạo, mỗi khi nhớ đến thầy, tôi lại tiếp tục viết về thầy, viết không phải để ca ngợi, mà để giữ lại hình ảnh một bậc Long Tượng đã soi sáng cho tôi và cho bao thế hệ. Viết để kết nối tư tưởng siêu việt của thầy với khát vọng tìm về bến giác của các độc giả. Mong rằng, người đọc sở hữu tập sách này, nhìn vào văn chương, câu từ, lời giảng của thầy sẽ thấy một “hóa thân” khác của thầy hiển hiện, nơi trí tuệ siêu việt còn mãi trên “hình hài” giấy mực.

Thế Thân (Vasubandhu) viết trong Câu-xá:

“Nhược li trạch pháp định vô dư,

Năng diệt chư hoặc thắng phương tiện.

Do hoặc thế gian phiêu hữu hải,

Nhân thử truyền Phật thuyết Đối pháp.”

(若離擇法定無餘,

 能滅諸惑勝方便.

 由惑世間漂有海,

 因此傳佛說對法).[3]

Diễn giải bài kệ: Nếu bỏ đi khả năng giản trạch, tức trạch diệt của trí tuệ thì ta không thể có một phương pháp thù thắng nào để diệt được các thứ “hoặc” tức các thứ mê lầm. Chính bởi sự mê lầm này mà chúng sinh ở thế gian bị chìm nổi trong vòng (đại dương) sinh tử. Vì vậy, truyền thuyết cho rằng chính đức Phật đã giảng dạy A-tì-đàm (Đối pháp). Trạch diệt là khả năng của trí tuệ. A-tì-đàm (Luận tạng) mà đức Phật giảng dạy là nhấn mạnh đến nhận chân bằng trí tuệ.[4]

Trong tập sách này, chúng tôi chia thành ba phần: I. Phật học; 2. Luật học; 3. Văn học. Phần “Phật học” gồm những bài dạy liên quan đến Luận tạng (A-tì-đàm): Trung Quán, Duy thức, triết học Hoa nghiêm v.v… Một người đạt đến đỉnh cao của trí tuệ hàn lâm như thầy, sẽ giúp chúng ta nhận thức được pho Luận thư đồ sộ của nhà Phật, không còn bị bám bụi thời gian qua mấy nghìn năm lịch sử, hay khô cứng khó lãnh hội như chúng ta thường đọc, mà nó sẽ trở thành những bài pháp sống động thiết thực hơn qua sự phân tích của thầy.

Phần Luật học, đây là phần quan trọng không thể thiếu đối với những ai học Phật và nghiên cứu Luật tạng, vì kiến thức luật Phật giáo mà thầy Tuệ Sỹ truyền đạt cho tôi rất đặc biệt, chưa có sách vở nào luận bàn đến. Trước khi dẫn chứng, tôi muốn nói đến vai trò, vị trí giá trị của những vị Luật sư Phật giáo có ích gì trong đời sống sinh hoạt của Tăng-già. Tôi sống trong chùa trên ba mươi năm, điều mà khiến cho tôi ưu tư nhiều nhất là làm sao trong đoàn thể cộng đồng Tăng lữ cần có sự hiện hữu một bậc chân tu am tường Luật học, nếp sống Phạm hạnh. Sự hiện diện của họ luôn đem lại bình an cho Tăng đoàn, cho Phật giáo, uy đức của họ có thể nhiếp phục kẻ “cương cường” trong đạo lẫn ngoài đời. Theo tôi biết, sự truyền thừa Luật tông Đàm-vô-đức bộ tại Việt Nam, thời cận đại, ở trong Nam thế hệ thứ nhất là các Trưởng lão Hành Trụ, Thiện Hoa; ngoài Trung có Trưởng lão Đôn Hậu và Trí Thủ. Ngoài Bắc, Trưởng lão Bình Minh và Tổ Tuệ Tạng. Thế hệ thứ hai là Hòa thượng Đỗng Minh. Thế hệ thứ ba là Hòa thượng Tuệ Sỹ. Tôi là “đứa con út” của thời đại muộn màng, chỉ được hữu duyên thân cận, biết đến nhị vị Trưởng lão Đỗng Minh và Tuệ Sỹ. Tôi vào chùa năm 1993, năm 1998 ở bên cạnh Hòa thượng Đỗng Minh phụ tá công việc dịch thuật, kể từ năm này cho đến 2005 Hòa thượng viên tịch, suốt 12 năm tôi quan sát, khi Hòa thượng còn trụ thế, Phật giáo tại tỉnh Khánh Hòa rất yên bình. Sau năm 2005, kể từ đó Phật giáo tỉnh nhà gần như sa sút suy vi. Cũng vậy, khi thầy Tuệ Sỹ còn sinh tiền thì Phật giáo trong nước khác hẳn, giờ thầy đi rồi có vẻ phong khí Phật giáo Việt Nam trầm lắng, khó hồi sinh. Vì thạch trụ tùng lâm, chấn chỉnh chế độ Tăng-già đều nhờ vào sự hoằng truyền Luật học và gương sáng của họ. Những vị tông sư trì luật này ngoài vấn đề gìn giữ mạng mạch, chấn chỉnh chế độ Tăng-già, họ còn là những người mà trong Luật tạng gọi là “Tha-la-tha 他邏咃”, hay “Thát-lại-tra-lợi (闥賴吒利), Phạn ngữ: sthalasthalī. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa dịch nghĩa “thát-lại” (sthala) là địa (đất), tra-lợi (stha) là trụ, nghĩa là người trụ vững trên đất, tức chỉ cho bậc trí thắng tự tại đối với chánh pháp bất động, như người đứng vững trên đất không bị nghiêng ngửa. Hoặc người không thiên vị, không bên này bên kia giữa hai phe nhóm.[5] Nói rõ hơn, khi trong Tăng có việc tranh chấp, hoặc gồm các nguyên tắc cử tội, tức tố quyền của tỳ-kheo nguyên cáo, và các trường hợp bất phục tức kháng biện của tỳ-kheo bị cáo vân vân, Tăng sẽ chỉ định người đoán sự (斷事, xử lý việc), hay thiết lập ban đoán sự, là bầu những vị “Tha-la-tha”. Điều này xem ra cũng tương tợ cách tổ chức các cấp tòa án khác trong pháp chế thế tục. Đối với xã hội Việt Nam trong thời đại mà nếp sinh hoạt tinh thần đạo đức truyền thống của Phật giáo bị suy thoái trầm trọng như hiện nay, thì trong Tăng cần một tỳ-kheo, có uy tín về phẩm chất trí tuệ cũng như tư cách đạo đức, không can sự vào phe nào, đứng ra làm trung gian xử lý, hòa giải là điều cần thiết.

Thầy Tuệ Sỹ thường dạy tôi, muốn giỏi luật đạo bắt buộc phải am tường cả luật đời. Tôi nghĩ, đôi khi chúng ta học một đời nhiều lắm thì cũng chỉ hiểu một lĩnh vực; đằng này đối với thầy, bằng một cách nào đó thầy lại thong dong cả “hai bờ”: luật Phật và luật thế gian. Nhờ hiểu luật đời, khi giảng về bốn tội ba-la-di, như trộm cắp, thầy dẫn thêm những điều khoản về quyền sở hữu trong luật dân sự; hoặc tội nói dối, thầy mở rộng sang quy định, trách nhiệm liên hệ pháp đình. Điều làm tôi ngạc nhiên, kính phục nữa là thầy giảng đến tội Phá tăng. Thầy nói: “Thực tế tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni phạm tội dù lớn hay nhỏ đều có thể sám hối và phục hồi Tăng thể. Trong luật đặt ra phạm ba-la-di như cây đa-la bị chặt đầu không thể sống được,[6] luật họ đặt ra phải nói vậy. Nói mất giới thì không hẳn. Nhưng do những tội liên quan đến xã hội ngoài đời mà người ta không thể tha thứ, thành ra luật Phật cũng không thể cho sám hối như trường hợp tội ba-la-di: giết người, trộm cắp, vọng ngữ. Có những tội rất nặng nhưng không ghép vào tội ba-la-di. Ví dụ tội Phá tăng, tuy xếp trong tội ‘ngũ nghịch’ nhưng chỉ ở mức phạm Tăng tàn. Vì ông tỳ-kheo kia có phá Tăng thì chỉ liên quan giữa Tăng với nhau, rồi Tăng đem ông đó ra xử. Không liên quan gì đến xã hội.”

Trong phần Văn học, tôi bình luận một vài bài điển hình trong văn chương cũng như thi ca của thầy. Viết về con người và tư tưởng của thầy, tri thức Phật học là miêu tả một bậc Long Tượng với trí xuất trần, một bậc Chân nhân trong đời thực; còn bàn đến văn chương, thi ca thì chính là nói đến dòng máu nóng hổi chảy trong huyết quản của một thiền sư: “mang hương vị hiện sinh trong một giai thời hỗn loạn”, “một phương cách vươn thoát khỏi vũng lầy hiện hữu” và thấm đẫm nhiều cung điệu bi tráng. Văn chương, thi ca của thầy Tuệ Sỹ không phải là những lời tụng niệm giáo điều, mà là tiếng lòng của một kẻ độc hành trên bãi cát dài của lịch sử, là sự “vẫy chào tử sinh” với nụ cười ngạo nghễ, một người suốt đời đi cùng với nỗi đau của dân tộc. Đem trí năng thiển cận của tôi mà bình phẩm văn chương, thi ca của thầy thì chẳng khác nào Đỗ Mục tự thấy thẹn lòng, ngần ngại đặt bút viết Tựa cho thi tập của Lý Hạ: “Mây và khói liên miên cũng không đủ để nói hết cái phong thái của nó; nước trôi lững lờ không đủ để nói hết cái tình của nó; màu xuân ngất ngất không đủ để nói hết cái hòa của nó; mùa thu sáng và trong không đủ để nói hết cái cốt cách của nó; cột buồm lộng gió và vó ngựa chiến trường không đủ để nói hết cái dũng của nó; … cố quốc hoang lương, điện đài hư sụp, ngọn ngô gãy, và gò nông, không đủ để nói hết cái oán hận và bi sầu của nó…”[7] Nhưng cứ viết, viết để giữ lại một chân dung, một chân dung qua dòng tự sự.

Thầy Tuệ Sỹ không chỉ là một học giả uyên thâm với những công trình dịch thuật và sớ giải đồ sộ về kinh, luật, luận, mà còn là một nhân cách lớn tiêu biểu cho khí phách của tri thức Việt Nam đương đại. Tri thức ấy không đứng ngoài nỗi đau của con người, của dân tộc; trong nỗi đau và sự bế tắc, thầy đã mở ra một con đường mà ở đó Phật học, triết học và văn học hòa quyện thành một dòng chảy sáng trong, vượt thoát những giới hạn của thời cuộc.

Khi nhìn lại con người và tư tưởng của thầy, ta không chỉ thấy một nhân vật lớn của Phật giáo Việt Nam, mà còn thấy một biểu tượng của trí tuệ, tự do và lòng nhân từ. Con người ấy, gầy guộc nhưng can trường, với tất cả sự lặng lẽ: “Nhạn bay mãi vượt qua tầng không; bóng chìm dưới dòng nước lạnh; nhạn không có ý để lại vết tích; nước không có lòng lưu ảnh”, song cái lặng lẽ ấy vẫn thấy một bài học sâu sắc: sự giác ngộ không nằm khuất sau bốn bức tường cao kín của cổng viện, với con người trầm tư tĩnh lự, mà thấy trong cách thầy đã sống, đã nghĩ và đã dấn thân. Chính ở đó, thầy Tuệ Sỹ trở thành một nguồn cảm hứng bền bỉ cho những thế hệ sau tin tưởng vào tri thức trí tuệ, tình người bi mẫn, tiếp tục có trách nhiệm với thế giới Sa-ha (sahā) bao la đầy thống thiết này.

Phật lịch 2569, tiết Cốc vũ,
mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ (22 tháng 4 năm 2026)

Tâm Nhãn


[1] 攝大乘論釋 3, T31n1597, p. 333c17.

[2] Thành duy thức luận 2, T31n1597, p. 333c17.

[3] Câu-xá 1, T29, no. 1558, p. 1b17-20; (Phạn bản: dharmāṇāṃ pravicayamantareṇa nāsti kleśānāṃ yata upaśāntaye ‘bhyupāyaḥ/ kleśaiśca bhramati bhavārṇave ‘tra lokastaddhetorata uditaḥ kilaiṣa śāstrā).

[4] Cf. Tuệ Sỹ, Đại cương thiền quán – Liên hoa ấn hành, 1967, tr. 185.

[5] “Tha-la-tha”, Phạn ngữ: sthala-stha, sthala-stha-varta [sthalasthalī]; Pāli: thalaṭṭha. Cf. Tăng-kỳ 26, T22, no. 1425, p. 439b22; Ma-đắc-lặc-già 3, T23, no. 1441, p. 579b18); Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa 9, T23, no. 1440, p. 563c28.

[6]  Luật Thập tụng 1, T23, no. 1435, p. 2b7: Như đoạn đa-la thọ đầu tất cánh bất sinh 如斷多羅樹頭畢竟不生.

[7] Tuệ Sỹ, Lý Hạ – bàn tay của quỷ, 2023, trang 61.

MỤC LỤC

MỤC LỤC………………………………………………………………….. 5

TỰ NGÔN…………………………………………………………………. 9

PHẦN I. PHẬT HỌC…………………………………………………….. 17

CHƯƠNG I. HỌC THUYẾT TRUNG QUÁN

TƯ TƯỞNG LONG THỌ TRÙNG PHÙNG TRÊN NẺO ĐƯỜNG  QUÊ HƯƠNG            19

TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN VÀ “BÁT BẤT’’…………………. 21

1. Sự ra đời của triết học Trung quán:…………………….. 21

2. Lời Tựa Trung luận:………………………………………. 22

3. Định danh “Trung quán”:…………………………………. 30

4. Thầy Tuệ Sỹ luận giảng “Bát bất”:……………………… 32

5. Dòng tưởng niệm chưa hồi kết:…………………………. 39

CHƯƠNG II. GIÁO NGHĨA THÀNH DUY THỨC LUẬN………….. 41

THÚ CHỦ NGOẠI ĐẠO………………………………………… 42

1. Danh từ Thú chủ:…………………………………………. 42

2. Danh từ Parivrājaka:……………………………………… 43

3. Nguồn gốc xuất xứ:………………………………………. 44

4. “Thú chủ” ảnh hưởng thần linh:…………………………. 46

CHỦ TRƯƠNG CHẤP NGÃ CỦA ĐỘC TỬ BỘ…………….. 53

1. Danh xưng bộ phái:………………………………………. 55

2. Sự nhầm lẫn của Tăng Hựu:……………………………. 58

3. Chủ trương có ngã của Độc tử bộ:…………………….. 59

QUÁ TRÌNH DIỆT NGÃ………………………………………… 64

1. Câu sanh ngã chấp:……………………………………… 64

2. Phân biệt ngã chấp:………………………………………. 71

3. Quá trình diệt ngã:……………………………………….. 73

DẪN NGHIỆP – CHÂN DỊ THỤC VÀ MÃN NGHIỆP – DỊ THỤC SINH        86

1. Dẫn nghiệp:……………………………………………….. 86

2. Mãn nghiệp – dị thục sinh:……………………………….. 87

3. Chân dị thục:………………………………………………. 89

4. Kết luận:…………………………………………………… 92

VẤN ĐỀ DỊ THỤC VÀ THUYẾT DI TRUYỀN………………… 93

1. Dị thục và di truyền học:…………………………………. 93

2. Dị thục và sở trưởng dưỡng:……………………………. 97

3. Câu chuyện cổ tích và Chân dị thục:…………………. 102

CHƯƠNG III. TRIẾT HỌC HOA NGHIÊM…………………………. 107

KINH HOA NGHIÊM…………………………………………… 107

1. Nhập đề:…………………………………………………. 107

2. Hoa tạng thế giới hải:…………………………………… 109

3. Nhập pháp giới:…………………………………………. 113

4. Ngôn ngữ biểu tượng:………………………………….. 115

5. Nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo theo Hoa nghiêm:        117

6. Tu theo Hoa nghiêm:……………………………………. 119

7. Bốn pháp giới và sáu tướng:…………………………… 125

MƯỜI HUYỀN MÔN………………………………………….. 128

1. Đồng thời cụ túc tương ưng môn (同時具足相應門):.. 128

2. Quảng hiệp tự tại vô ngại ngôn (廣狹自在無礙門):….. 137

3. Nhất đa tương dung bất đồng môn (一多相容不同門): 138

4. Chư pháp tương tức tự tại môn (諸法相即自在門):…. 138

5. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn (隱密顯了俱成門):…. 139

6. Vi tế tương dung an lập môn (微細相容安立門):…….. 140

7. Nhân-đà-la võng cảnh giới môn(因陀羅網境界門):…. 140

8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn(託事顯法生解門):.. 141

9. Thập thế cách pháp dị thành môn(十世隔法異成門):. 142

10. Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn(唯心迴轉善成門): 144

CHƯƠNG IV. CÂU-XÁ – NGỮ VỰNG PHẬT HỌC VÀ TRIẾT LÝ 147

“SỞ TRI CHƯỚNG” VÀ “BẤT NHIỄM Ô VÔ TRI”…………. 151

PHIỀN NÃO VÀ TÙY MIÊN…………………………………… 156

ÁI NHUẬN CHỦNG TỬ VÀ TRUNG HỮU………………….. 159

CHƯƠNG V. PHẬT ĐIỂN VÀ KHOA HỌC……………………….. 167

Ý NGÔN VÀ CÂU CHUYỆN KHOA HỌC ÓC NÃO……….. 167

Ý THỨC VÀ NGHIÊN CỨU CỦA EDWARD TAUB……….. 172

PHẦN II. LUẬT HỌC…………………………………………………. 177

CẦN HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA VÀ HÌNH THỨC THỌ GIỚI  “CỤ TÚC” 179

1. Văn truyền giới của hai hệ:…………………………….. 180

2. Sự khác biệt của hai văn bản:…………………………. 184

3. Ý nghĩa “cụ túc” giới:……………………………………. 187

4. Kết luận:………………………………………………….. 188

“TÙY Ý SỰ” CỦA LUẬT CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ   192

1. Duyên khởi:………………………………………………. 192

2. Từ “áo-bề-ca”:…………………………………………… 195

3. Ý nghĩa “Tùy ý”:…………………………………………. 197

4. Nguyên nhân thiết lập quy chế:……………………….. 198

5. Hình thức và thời gian tổ chức nghi lễ “tùy ý” (tự tứ):. 199

6. Nghi lễ “tùy ý” trong các bản kinh cổ:…………………. 201

BÀ MA-HA BA-XÀ-BA-ĐỀ VÀ BÁT KÍNH PHÁP…………… 204

1. Bà Ma-ha ba-xà-ba-đề xuất gia – nhiều tình tiết mâu thuẫn:  204

2. Bát kính pháp:…………………………………………… 207

THẤT PHẢN HÀNG MA………………………………………. 217

1. Văn bản câu chuyện:…………………………………… 219

2. Thất phản hàng ma – ảnh hưởng từ Đạo Tuyên:……. 222

TỲ-KHEO PHẠM TRỌNG TỘI  CÓ THỂ THA THỨ KHÔNG? 226

1. Bốn tội-ba-la-di:…………………………………………. 226

2. Quan điểm nhận định của thầy Tuệ Sỹ:………………. 231

Ý NGHĨA CHỮ “TU” VÀ VIỆC THỌ  “BÁT QUAN TRAI”….. 236

1. Ý nghĩa chữ tu:………………………………………….. 237

2. Giới là gì:…………………………………………………. 238

3. Vượt qua giới hạn của con người hiện tại:…………… 239

4. Những thứ cần vượt qua:………………………………. 240

5. Việc thọ giới và tu:………………………………………. 242

6. Cách thức tu tập:………………………………………… 243

7. Tu Bát quan trai:………………………………………… 244

8. Ý nghĩa thọ “Bát quan trai” giới:……………………….. 247

9. Phân loại giới và thể của tám chi:…………………….. 250

PHẦN III. VĂN HỌC………………………………………………….. 257

TUỆ SỸ VÀ LÝ HẠ – “CÔ ĐƠN, NỖI CÔ ĐƠN SÂU THẲM BÊN TRONG”   259

TUỆ SỸ – TỪ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY ĐẾN SỰ HỦY DIỆT MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG           265

1. Triết học phương Tây:………………………………….. 265

2. Sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng:………………. 267

TUỆ SỸ VÀ DỊCH LÝ………………………………………….. 271

DỤ NGÔN CỦA THẦY………………………………………… 278

1. Tiền thật, tiền giả:……………………………………….. 278

2. Cha con trong nhà khen nhau:………………………… 278

3. Cái dơ của thằng ăn mày:……………………………… 280

4. Sống giả miết rồi cũng thành thật:…………………….. 280

“PHẬN ĐỜI LƯU LẠC” CỦA CÂU ĐỐI……………………… 282

“TA SỐNG LẠI TRÊN NỖI BUỒN ÁM KHÓI” (À BOUT DE CHAGRIN ENFUMÉS, JE REVIS) 285

VĂN CHƯƠNG TRONG BÀI MINH…………………………. 290

1. Bài minh khắc trên Đại hồng chung chùa Linh Sơn, Vạn Ninh:           291

2. Bài minh viết cho Ni trưởng Thích Nữ Tâm Đăng:….. 295

ĐỨC KHIÊM CUNG TRONG VĂN TỰ CỦA MỘT THIÊN TÀI… 305

ĐẠI TẠNG KINH – CÔNG TRÌNH CUỐI CÙNG CỦA  THẦY
TUỆ SỸ…………………………………………………………. 312

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất