TUỆ SỸ VÀ LỜI TỰA CỦA TĂNG DUỆ
1
Cái thời tôi chưa đi xuất gia hay sau khi xuất gia, thói quen thì vẫn vậy, mỗi khi đi mua một cuốn sách, trước tiên đọc lời Tựa, thấy hay thì mua.
“… Cho đến ngày hòa bình, Chùa vẫn vắng vẻ. Dù chiến tranh hay hòa bình, sự sống vẫn là những đợt sóng thăng trầm giữa đại dương mộng tưởng. Vẻ khiêm tốn, cô liêu, tĩnh mịch của nhà Chùa vẫn như là những cọng cỏ úa, chứng nhân cho trò đời dâu biển… Chợt cảm hứng, tôi viết tặng Chùa hai câu đối …:
Vượt Trường sơn nghìn dặm Bắc Nam, nhìn nắng đọng sân chùa, khách có biết mấy lần dâu biển?
Ngắm sông bạc một màu chung thủy, lắng chuông ngân đầu cỏ, người không hay một thoáng Vô vi.
Đọc lại thơ của mình, tôi lại chợt nhớ bài thơ thất tuyệt của nhà thơ đời Đường Lý Thiệp…”
Dẫn lời Tựa trong cuốn “Huyền thoại Duy-ma-cật”, do thầy Tuệ Sỹ viết; cá nhân tôi cảm nhận, một loại bút pháp “sa đà” văn chương, tài năng tu từ học trôi chảy, tái tạo thường xuyên, làm rộn ràng nhịp đập con tim của người đọc. Nghệ thuật văn chương là một nghệ thuật chỉ có thể thủ đắc được bằng kinh nghiệm cá nhân, về chính bản thân và thực tại. Thầy nói, muốn làm đối hay phải thuộc thơ Đường nhiều; muốn viết lời Tựa hay cần “thẩm thấu” lời văn trong các Tựa kinh, luận. Kỳ thật, trên bàn tay của thiên tài có sẵn một ngã rẽ cho thân phận, thầy sinh ra đồng hành cùng dân tộc và sinh ra để viết lời Tựa cho kiệt tác kinh điển, như Tăng Duệ thời Đông Tấn, Trung Hoa.
Tăng Duệ (僧叡), tăng nhân thời Đông Tấn, người quận Ngụy, Trường Lạc, nay thuộc An Dương, Hà Nam. Năm sinh và mất không rõ. Đương thời ông được xưng tụng là một trong bốn bậc “Thánh” của Quan Trung (關中四聖). Quan Trung chỉ cho một vùng nhỏ ở Trường An, cũng là trung tâm dịch kinh lớn nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc thời Cưu‑ma‑la‑thập (Kumārajīva).
Năm 401, niên hiệu Hoằng thủy đời Diêu Tần, khi Cưu-ma-la-thập đến Trường An, tổ chức Dịch trường, dưới sự tài trợ của vua Diêu Hưng. Lúc này có bốn cây bút lớn như Đạo Sinh, Tăng Triệu, Đạo Dung, Tăng Duệ tham gia hiệu đính kinh điển cho La-thập. Tăng Duệ là một trong những trợ thủ quan trọng nhất trong Dịch trường. Giai thoại nổi tiếng nhất trong thời gian phụ tá La-thập phiên dịch; có một lần La-thập dịch kinh Pháp hoa, đến phẩm “Năm trăm đệ tử thọ ký” (五百弟子授記), duyệt bản của Trúc Pháp Hộ dịch, thấy câu: “Thiên kiến nhân, nhân kiến thiên 天見人人見天” (trời thấy người, người thấy trời). La-thập nói: “Lời này hoàn toàn giống với ý nghĩa ở Tây Vực, chỉ là cách diễn đạt hơi thô.” Nhóm dịch giả suy nghĩ và tranh luận hồi lâu, Tăng Duệ đề nghị dịch lại: “Người và trời giao cảm, cả hai đều thấy nhau?” (Lịch đại tam bảo kỷ 8, T49n2034, p. 79a22: 將非人天交接兩得相見乎). La-thập vui mừng, nói: “Đúng vậy!”
Mặc dầu trong hàng ngũ học trò của La-thập, Tăng Duệ không bằng Tăng Triệu hay Đạo Sinh, nhưng Tăng Duệ là nhân vật không thể thiếu trong việc hình thành nền tảng Phật học Trung Quốc, cũng là cầu nối giữa tư tưởng Ấn-độ với truyền thống học thuật Trung Hoa. La-thập đánh giá Tăng Duệ là người nắm bắt tinh thần Ấn-độ chính xác, hiểu ý thầy, khả năng diễn đạt rõ ràng, chuẩn mực, không sáng tạo quá mức, cho nên La-thập luôn chọn Tăng Duệ viết lời Tựa cho các tác phẩm quan trọng như Trung luận, Đại trí độ luận, Pháp hoa kinh v.v… Nghiễm nhiên Tăng Duệ trở thành người giỏi nhất trong việc viết lời Tựa, giải thích mục đích, cấu trúc ý nghĩa của kinh luận. Đọc vào lời Tựa do Tăng Duệ viết, chúng ta sẽ thấy trí tuệ sắc bén cũng như khả năng biện luận mạnh mẽ của ông. Với văn tài xuất chúng, tư duy triết học, đặt bút xuống lưu lại nghìn đời. Nhưng đọc để hiểu và thấy được cái hay của nó không đơn giản, nếu không có kiến thức Phật học hay nền tảng triết học Trung Hoa thì khó mà lãnh hội. May mắn cho chúng ta, khi còn sinh tiền, thầy Tuệ Sỹ đã dịch lời Tựa bộ Trung luận do Tăng Duệ viết và giảng giải rất chi tiết. Có lẽ đây là Cảo bản mà thầy Tuệ Sỹ dự kiến dịch trọn bộ Trung luận mà chưa thực hiện được. Tôi sẽ ghi chép đầy đủ ở đây, cho mọi người thấy được trình độ kiến thức của hai thiên tài, một trong thời kỳ trung cổ và một thời kỳ cận đại.
2
TỰA TRUNG LUẬN – TĂNG DUỆ, VIỆT DỊCH VÀ CHÚ GIẢI: TUỆ SỸ
TRUNG LUẬN có năm trăm bài kệ, là tác phẩm của Long Thọ. Lấy chữ Trung mà nêu Danh, là để soi tỏ cái Thật, lấy chữ Luận mà gọi tên, là để suốt cùng ngôn ngữ. Cái Thật mà không được nêu danh thì không thể tỏ ngộ, do đó gá vào Trung để mô tả. Ngôn ngữ mà không được giải thích thì không thể suốt cùng, do đó mượn Luận để hiển bày. Khi cái thật đã được mô tả, ngôn ngữ đã được hiển bày, thì sự thực hành của Bồ-tát, và sự quán chiếu nơi đạo tràng bấy giờ được buông lửng một cách rõ ràng vậy.
(T30n1564, p. 01a05║釋僧叡序
中論有五百偈。龍樹菩薩之所造也以中為名者。照其實也。以論為稱者。盡其言也。實非名不悟。故寄中以宣之。言非釋不盡。故假論以明之。其實既宣。其言既明。於菩薩之行道場之照。朗然懸解矣).
CHÚ GIẢI:
Từ Danh 名 là thật 實 là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, giữa ngôn ngữ và thực tại; đây là đề tài quan trọng chung cho các hệ tư tưởng của Trung Quốc; nhất là Lão Trang, hệ tư tưởng mà Tăng Duệ chịu ảnh hưởng rất nhiều trước khi biết đến đạo Phật. Trong phần mở đầu của bài tựa này, Tăng Duệ giải quyết những mâu thuẫn tranh luận giữa các hệ tư tưởng Trung Quốc về vấn đề Danh – Thật bằng thuyết Nhị đế của Trung luận như được trình bày ở Chương 24 “Quán Tứ Thánh đế.”
“Buông lửng”: Huyền giải 懸解, từ của Trang tử, chỉ trạng thái vượt lên tất cả sống và chết, buồn và vui. Trang tử “Dưỡng Sinh Chủ”: “Thích lai phu tử thời dã, thích khứ phu tử thuận dã. An thời nhi xử thuận, ai lạc bất năng nhập dã. Cổ giả vị thị đế chi huyền giải.” 適來夫子時也適去夫子顺也安時而處顺哀樂不能入也古者謂是帝之懸解.
Giải thích của Cát Tạng (Trung quán luận sớ, T42n1824 p2c2), có hai ý nghĩa: (a) Sự tu nhân của Bồ-tát đã thành tựu và sự quán chiếu tại Đạo tràng đã được hiển lộ, bấy giờ hoàn toàn vượt ngoài những nỗi buồn vui sống chết; giống như nỗi buồn và nỗi vui không len vào được tâm tư. (b) có trói buộc gọi là huyền (treo), không có trói buộc gọi là giải (cởi). Có trói buộc chỉ cho bị trói buộc vào các thiên chấp đoạn và thường; các kiến chấp khi đã vắng bặt được gọi là giải.
(Còn tiếp)

Bài, ảnh kèm chú thích bởi: Tâm Nhãn, truy cập ngày 21.01.2026


